.

U hắc tố ác tính là gì?

.

U hắc tố ác tính tuy không phải là căn bệnh phổ biến tại Việt Nam nhưng bệnh để lâu sẽ gây những biến chứng vô cùng nặng nề cho bệnh nhân.

U hắc tố ác tính là bệnh lý ác tính của tế bào sinh sắc tố melanin, các tế bào này phân bố chủ yếu ở lớp tế bào đáy của biểu bì da, ngoài ra còn thấy ở võng mạc mắt, trực tràng... Bệnh hay gặp nhất ở Úc (25-30 /100.000 dân), ít gặp ở Việt Nam.

 

Phát hiện sớm có thể làm tăng hiệu quả điều trị với phẫu thuật tương đối đơn giản. Ngược lại, khi bệnh ở giai đoạn muộn, đã di căn hạch hoặc di căn xa thì hiệu quả điều trị thấp, tiên lượng rất xấu.

Tiếp xúc với tia cực tím của ánh nắng mặt trời được ghi nhận là nguyên nhân chính gây ra căn bệnh u hắc tố ác tính. Nguy cơ mắc bệnh u hắc tố ác tính ở thế hệ thứ hai tăng gấp bốn lần.

Uhắc tố ác tính có thể gặp ở bất kỳ vị trí nào của cơ thể hay gặp ở các vị trí hay cọ xát: gót chân, cơ quan sinh dục....

Hơn 90% là u hắc tố ác tính của da, trong đó 70% xuất hiện trên nền một nốt ruồi đã có từ trước. U thường phát triển lồi lên mặt da màu đen nhánh, đôi khi có màu đỏ hoặc trắng. Ngoài ra còn có thể gặp u hắc tố ác tính ở võng mạc mắt, màng não, các hốc tự nhiên, đại trực tràng, gan. Tuỳ theo vị trí giải phẫu của u mà nó có các triệu chứng mượn của các loại bệnh đặc trưng cho vị trí giải phẫu đó.

Khoảng 5% các trường hợp u hắc tố ác tính không sinh sắc tố, tổn thương chỉ là một cục thịt lồi lớn dần, chỉ có thể chẩn đoán được bằng mô bệnh học.

Triệu chứng điển hình của UHTAT là sự thay đổi tính chất của một nốt ruồi cũ, một tổn thương tăng sắc tố cũ, hoặc ngay trên nền da bình thường. Những thay đổi này được chú ý theo mức độ quan trọng từ nhiều tới ít gồm ba nhóm:

1. Nhóm triệu chứng có giá trị gợi ý cao: thay đổi về kích thước, hình dạng, màu sắc.

2. Nhóm triệu chứng có giá trị gợi ý trung bình: phản ứng viêm tấy, bong vẩy hoặc chảy máu, thay đổi cảm giác, đường kính nốt ruồi trên 7 mm.

3. Nhóm triệu chứng có giá trị gợi ý thấp: mất tính đối xứng, bất thường về màu sắc, tổn thương nhô cao lên mặt da, thay đổi bờ của thương tổn.

Bệnh rất hay di căn hạch và di căn xa và khoảng 6% u hắc tố ác tính có di căn hạch, nhưng không rõ u nguyên phát.

Tóm lại, biện pháp quan trọng nhất để phòng bệnh là hạn chế tiếp xúc trực tiếp với tia cực tím, tự khám da toàn thân định kỳ hàng tháng. Với nốt ruồi mà có thay đổi về kích thước, hình dạng, màu sắc hoặc các tổn thương tăng sắc tố trên da có tính chất: tiến triển nhanh, sùi loét, chảy máu thì cần phải đến cơ sở chuyên khoa để được thăm khám và điều trị kịp thời.

Theo Vietnamnet

;
.
.