Anh hùng Lao động Nguyễn Đăng Giáp - Từ chiến trường tới thương trường
Anh hùng Lao động, Đại tá Nguyễn Đăng Giáp luôn tâm niệm “Ngọc bất trác bất thành khí” (ngọc không mài giũa thì không sáng). Bởi vậy, cả cuộc đời, ông đã nỗ lực không mệt mỏi, dám đối đầu với khó khăn một cách trực diện - tự đặt cho mình bài toán khó để tìm cách vượt qua.

Lê Xuân • 29/08/2025
Anh hùng Lao động, Đại tá Nguyễn Đăng Giáp luôn tâm niệm “Ngọc bất trác bất thành khí” (ngọc không mài giũa thì không sáng). Bởi vậy, cả cuộc đời, ông đã nỗ lực không mệt mỏi, dám đối đầu với khó khăn một cách trực diện - tự đặt cho mình bài toán khó để tìm cách vượt qua. “Tôi lấy công việc, sự sáng tạo và đấu tranh cho lẽ phải, cho những người nghèo làm hướng đi của cuộc đời mình”, đó chính là lý tưởng ông theo đuổi, cũng là sứ mệnh của người anh hùng trong cuộc sống thời bình.
-----------
Làng Đông Chử (nay thuộc xã Đông Lộc, tỉnh Nghệ An), nơi cồn khô cát bạc, thiên nhiên không ưu đãi, nhưng mảnh đất này đã sản sinh nhiều bậc hiền tài. Vào cuối thế kỷ XIX, làng Đông Chử trở thành một trong những trung tâm giáo dục lớn của cả nước, đào tạo nên những chí sĩ yêu nước, sáng danh trong lịch sử như Đặng Nguyên Cẩn, Ngô Đức Kế, Phan Bội Châu, Nguyễn Sinh Sắc… Truyền thống văn hóa và cách mạng của vùng đất địa linh nhân kiệt ấy đã hun đúc nên bản lĩnh, trí tuệ và sự nhân văn nơi Nguyễn Đăng Giáp - doanh nhân tiêu biểu của đất nước và quê hương xứ Nghệ .

Miền Tây xứ Nghệ là nơi có nhiều duyên nợ với Anh hùng Lao động, Đại tá Nguyễn Đăng Giáp. Từ con đường đất đỏ bazan, ông đã sơ tán lên Nghĩa Đàn, theo học tại Trường Cấp 3 Nghi Lộc 1, rồi 2 lần từ chối cánh cổng trường đại học để trở thành một "chiến mã Trường Sơn" của Đoàn 559.

Năm 1972, toàn bộ đường 20 với chiều dài hơn 120 km là “tuyến đường lửa”, nơi dốc Đồng Tiến, cua chữ A, ngầm Ta Lê, đèo Phu La Nhích… bị bom địch dội cháy trụi, chỉ còn mấy thân cây săng lẻ đứng chơ vơ giữa nền đất xám xịt, tơi tả. Trên con đường này, Nguyễn Đăng Giáp đã chính thức trở thành tay lái Trường Sơn cùng chiếc xe Zil-57 ba cầu mang biển số ĐT-5134. Ông đã trải qua những lần địch đánh dữ dội, phải lao nhanh xuống gầm xe, ôm lấy cầu giữa tránh đạn, những lần bom tọa độ sượt qua cơ thể, khiến tay trái ông bị thương đau nhói…
Nhưng có lẽ kỷ niệm mà Nguyễn Đăng Giáp nhớ nhất về Trường Sơn, đó là lần vượt đèo 141, giáp giữa Quảng Trị và Thừa Thiên. Đường hẹp và trơn, xe lên đến đỉnh đèo thì một chiếc xe khác đã “chỏng vó”, chiếm mất già nửa đường. Lách qua được chướng ngại vật thì xe lao thẳng xuống vực sâu hàng chục ki-lô-mét. Bằng quán tính, ông trả được 2 vòng tay lái, xe tấp vào chỗ đất trống bên lề đường, nhưng vì đường trơn, nên xe cứ thế lao xuống, trượt như tên bắn mỗi lúc một nhanh. Bình tĩnh, ông cầm tay lái xoay như múa, cho xe lượn theo đường đèo, đầu xe lượn bên này, đít xe lượn bên kia… Trượt gần chục ki-lô-mét, ông dừng xe ở ngầm, dưới chân đèo. Ông lao xuống suối, tu một bi-đông nước, rồi nằm vật ra một tảng đá, quần áo ướt sũng mồ hôi như dưới suối chui lên, và không khóc mà nước mắt cứ lặng lẽ ứa ra… Nhưng rồi, sự cố đó được ông nhanh chóng xua tan. Lùi lại sau vết bánh xe lăn, ông lại hòa vào rừng Trường Sơn cuộn trào bụi đỏ, trở thành một "nhân tố" không thể thiếu của Sư đoàn 471, sư đoàn ô tô vận tải thứ hai thuộc Bộ Tư lệnh Trường Sơn.

Khó khăn, áp lực, đối diện với lằn ranh sinh tử mong manh, đã tôi luyện trong Nguyễn Đăng Giáp một bản lĩnh của người lính “thắng không kiêu, bại không nản”. Trong chiến trường, ông đã học được những bài học “đắt giá”, những bài học lớn mà không một cuốn giáo trình nào có thể trang bị. Đó cũng là những kinh nghiệm quý để sau này ông tự nhắc mình, khi bươn chải trên thương trường, có lúc cũng khốc liệt chẳng khác chiến trường.

Người lính Nguyễn Đăng Giáp trong chiến tranh luôn vô tư, trong sáng, gan dạ, một lòng sắt son với lý tưởng. Trong thời bình, tinh thần người lính Cụ Hồ trong ông vẫn vẹn nguyên, để luôn vươn lên nắm bắt cơ hội, hiện thực hóa những khát vọng của mình. Nét đặc biệt này trong con người Nguyễn Đăng Giáp đã lọt mắt xanh của Tư lệnh Binh đoàn 11. Từ Cam Ranh, ông được điều về làm Trạm trưởng Trạm khách TO2 - Binh đoàn 11 tại Kim Giang, Hà Nội. Từ đây, ông chính thức bước chân vào thương trường khắc nghiệt. Ông vừa tham gia lớp học Đại học Luật để mở mang vốn kiến thức về lý luận, vừa mở rộng mối quan hệ, học hỏi cung cách quản lý và kinh doanh. Năm 2000, duyên nợ với miền Tây Nghệ An đã đưa bước chân ông trở về Môn Sơn - Lục Dạ trong một công trình mang tính khởi đầu của sự nghiệp lừng lẫy sau này.

Dự án xây dựng đập Môn Sơn ngăn dòng sông Giăng, lấy nước tưới cho 500 ha lúa của 2 xã Môn Sơn, Lục Dạ (nay là xã Môn Sơn); song cho đến năm 1999, hai đơn vị trúng thầu thi công nhưng đều thất bại, bỏ cuộc. Mưa lũ đã cuốn bay công trình, gây thiệt hại hàng chục tỷ đồng. Có người phải chịu trách nhiệm, rơi vào vòng lao lý…
Nghiên cứu kỹ thực địa, Nguyễn Đăng Giáp nhận ra sự thất bại của 2 nhà thầu trước có nguyên do từ kỹ thuật. Địa tầng khu vực xây đập phức tạp, nhiều sỏi, nếu móng cọc không cắm được vào tảng đá gốc với phương pháp thi công đặc biệt thì đập không thể trụ vững trước sự hung dữ của sông Giăng. Sau khi nghiên cứu, ông đã báo cáo Thủ trưởng Binh đoàn 11 nhận đấu thầu công trình, và kết quả Đội xây dựng 18, thuộc Xí nghiệp 37 của ông đã trúng thầu.

Từng ngày ông bám sát công trình, sáng tạo trong áp dụng khoa học vào thực tiễn và quyết liệt, táo bạo trong tiến độ thi công. Móng được đào sâu qua lớp cát-tơ xuống tầng đất sét, đồng thời, dùng hàng trăm mét vuông vải tiếp địa chống thấm của Liên Xô để lót đáy đập. Riêng đai khớp móng, ông đã sử dụng 124 mét inox thay cho đai sắt theo thiết kế, vì sự bền vững của công trình.
Tết Nhâm Ngọ năm 2002 là một cái Tết đặc biệt. Nguyễn Đăng Giáp cho mua sắm vật phẩm và gói 500 cái bánh chưng chuyển vào công trường. Anh em vừa đón Tết bên bờ sông Giăng, vừa thi công trong 3 ngày Tết. Với tiến độ khẩn trương, chạy đua với thời gian, với lũ, công trình Môn Sơn đã vượt kế hoạch thi công 18 tháng.

Đầu Hè năm 2002, đập Môn Sơn hoàn chỉnh, cũng là lúc mưa lũ hoành hành. Toàn bộ cánh đồng Môn Sơn - Lục Dạ chìm trong biển nước. Cây đa hàng trăm năm tuổi ở hạ lưu con đập cũng bị bật gốc. Nhìn dòng nước hung hãn nhấn chìm con đập được xây nên bởi bao mồ hôi, nước mắt, từ gom toàn bộ vốn liếng của công ty và bản thân, lòng ông Nguyễn Đăng Giáp như có lửa đốt.
Mưa tạnh, nước rút dần, ông cùng mấy anh em lội nước tiến về phía con đập. Tất cả vỡ òa vì sung sướng. Trong cái nắng chao chát cuối mùa, con đập hiện lên sừng sững, vắt ngang dòng sông, phủ lên mình một lớp phù sa vàng mượt. Vậy là, lũ đã trả lời: Đập Môn Sơn vẫn vững vàng qua cơn đại hồng thủy… Thành quả thuộc về những người đã dám đương đầu và vượt lên khó khăn để giành chiến thắng. Đập Môn Sơn, mà người dân địa phương gọi là đập Phà Lài đã biến giấc mơ trị thủy của bà con Môn Sơn - Lục Dạ thành hiện thực. Trong tiếng đồng bào dân tộc Thái, Phà là trời, Lài là hoa. Phà Lài là hoa của trời, một bông hoa đã tô điểm cho cuộc sống miền Tây thêm no đủ, an yên và hạnh phúc.

Công trình thủy lợi Môn Sơn đã tạo đà để Nguyễn Đăng Giáp tiếp tục thực hiện những khát vọng của mình. Năm 2003, ông được đề bạt Giám đốc Xí nghiệp 36. Khi đó, xí nghiệp đang đứng trên bờ vực phá sản với khoản nợ xấu 34 tỷ đồng. Máy móc còn lại dăm ba cỗ máy đã hoen gỉ, nơi làm việc là mấy dãy nhà cấp 4 xập xệ, cả xí nghiệp rệu rã, bết bát. Một mình ông đã bươn bả, quyết đi lên từ con số âm, tạo niềm tin, từng bước đặt cơ sở ở trụ sở mới 141 Hồ Đắc Di - Hà Nội, tìm kiếm vốn và đối tác cho những công trình mới. Trong hoàn cảnh Xí nghiệp 36 vốn đã mất niềm tin, đi đến đâu, ông cũng chỉ nhận được sự từ chối và xa lánh… Bằng sự quyết đoán của một người chỉ huy, “phải tự cứu mình trước khi trời cứu”, Nguyễn Đăng Giáp chạy vạy, mượn bạn bè, thế chấp nhà cửa, và toàn bộ gia tài, lấy vốn đầu tư máy móc, thiết bị, tiếp tục tìm kiếm bạn hàng. Trời không phụ công người, chỉ trong 4 tháng cuối năm 2003, Xí nghiệp 36 dưới sự lãnh đạo của ông đã triển khai một loạt công trình đạt kết quả tốt, tạo đà đưa Xí nghiệp 36 thoát khỏi bờ vực của sự phá sản. Từ đây, ông chủ trương phát triển xí nghiệp theo cả chiều rộng và chiều sâu với phương châm “Đầu tư liên tục, khắc phục khó khăn, đoàn kết lập công, mở rộng thị phần, giành thương hiệu mới”.

Một loạt các công trình do Nguyễn Đăng Giáp trực tiếp chỉ huy thi công như: Nhà làm việc các ban Đảng, Trụ sở Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Hội trường Bộ Quốc phòng, Trung tâm Đào tạo Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Công trình Thủy điện Bản Vẽ,… đã đưa một xí nghiệp nhỏ, là một chấm nhỏ trên bản đồ ngành xây dựng nước nhà trở thành một thương hiệu uy tín.
Sau 3 năm, Xí nghiệp 36 đã lột xác thành Công ty TNHH MTV Đầu tư xây lắp và Thương mại 36 với doanh thu hàng ngàn tỷ đồng. Từ đây, một loạt công trình mới: Dự án chung cư B6, Giảng Võ (Hà Nội); Dự án xây dựng hệ thống điều hòa Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trụ sở Văn phòng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108… tiếp tục khẳng định thương hiệu, vị thế mới, đưa Xí nghiệp 36 vươn mình trở thành Tổng Công ty trực thuộc Bộ Quốc phòng, và là Tổng Công ty đầu tiên của Quân đội thực hiện cổ phần hóa thành công.


Xứ Nghệ và dòng tộc Nguyễn Đăng đã hun đúc nên trong Nguyễn Đăng Giáp một ý chí hơn người, một tâm hồn mẫn tiệp và một cách ứng xử sâu sắc của các cụ đồ Nho: “Tiến một phân để xử thế/Lùi lại một bước để làm người”. Có lẽ bởi thế, một trong những nguyên tắc hàng đầu trong văn hóa doanh nghiệp Nguyễn Đăng Giáp, là ông luôn đặt lợi ích của người dân, sự nhân văn cũng như tính bền vững của công trình lên trên lợi nhuận.
.jpg)
Trải qua bao biến cố, doanh nhân Nguyễn Đăng Giáp vẫn giữ nét tính cách bạch thoại, trung thực, thẳng thắn, chân tình của người Nghệ. Với ông, sự thật thì dù ngàn năm sau vẫn là sự thật. Bởi vậy, dù “Trung ngôn thì nghịch nhĩ”, “sự thật mất lòng”, nhưng ông vẫn không bao giờ biết khéo nói lọt tai để đẹp lòng người. Ông mở lòng để đón nhận tấm lòng của bạn bè, đồng nghiệp, bằng hữu để thấu cảm và sẻ chia, lắng nghe, tôn trọng và bao dung. Đó cũng là một nét cốt lõi trong cách sống đầy nhân văn của người Nghệ - Nguyễn Đăng Giáp.
“Một trăm năm rồi tới cả ngàn năm
Lòng chung thủy vẫn nguyên trong bè bạn
Và nốt lặng không bao giờ giới hạn
Như mùa Thu vàng, Hà Nội lại vào Đông”.
(Nốt lặng mùa Thu – Nguyễn Đăng Giáp)

Nguyễn Đăng Giáp quan niệm, cho đi là nhận lại. Bởi vậy, trong cuộc sống đời thường hay thậm chí trên thương trường, chuyện cho và nhận đối với ông cũng thật nhẹ nhàng. Ông có thể giang tay đón nhận Công ty 36 đang thua lỗ, chăm lo cho hàng nghìn cán bộ, công nhân đang có nguy cơ bị "bật" ra đường có một cuộc sống ổn định, tạo cơ hội cho họ phát triển. Ông cũng đã đến với những người lính nằm lại trong lòng đất lạnh trên cao điểm 21, Gio Mỹ, Gio Linh - Quảng Trị, giúp họ và thân nhân của họ thêm ấm lòng qua những hành động âm thầm như nén tâm nhang sâu sắc niềm tri ân.
Con người thủy chung, nặng tình quê ấy, đã trở về quê hương Nghi Trường (xã Đông Lộc ngày nay) thành kính tri ân với các bậc danh thần, danh tướng trong một công trình văn hóa tâm linh bề thế, một món quà đặc biệt cho người dân hôm nay và cả hậu thế mai sau – Đền Diên Cờ. Công trình sau khi phục dựng đã được Bộ Văn hóa công nhận Di tích văn hóa, lịch sử cấp Quốc gia năm 2016.

“Đi từ cát bạc cồn khô
Mà nay lấy Bờ Hồ làm quê
Sông Lam bên lở bên bồi
Gừng cay muối mặn không hề phôi pha…”
(Thơ Nguyễn Đăng Giáp)


.jpg)
Từ vùng đất cát bạc, cằn cỗi, sau 7 năm nhận Xí nghiệp 36, năm 2010 Đại tá Nguyễn Đăng Giáp được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới. Ông đã vinh dự 6 năm liên tiếp được đón nhận danh hiệu Doanh nhân xuất sắc châu Á - Thái Bình Dương, 2 lần đón nhận danh hiệu Doanh nhân Thế giới và được lựa chọn là đại diện duy nhất của Việt Nam nhận giải thưởng Bizz của Liên đoàn Doanh nghiệp thế giới năm 2022.
Ông chính là người truyền cảm hứng cho thế hệ kế tiếp, người thủ lĩnh chỉ huy "con tàu 36" vượt bão giông, đến được những nơi cần đến.