Xã hội

Bến đò Cố Xin và những người giữ ký ức

Minh Quân • 25/10/2026 21:02

Bên dòng Lam, bến đò Cố Xin nay là một bãi sông nhỏ với bụi tre và lối xuống quanh co. Những người con vẫn chăm nom bến cũ, gìn giữ kỷ vật của cha mẹ và kể lại những năm tháng gia đình đưa bộ đội, hàng hóa qua sông, chi viện cho miền Nam.

Một gia đình giữ đường qua sông

Trên đường ven sông Lam, gần lối xuống Trường THCS Lê Xuân Đào, tấm biển nền xanh ghi tên Di tích lịch sử cấp tỉnh Bến đò Cố Xin. Bên dưới là mũi tên chỉ hướng, báo khoảng cách 50 m. Di tích ở phía bên kia đường. Theo lối nhỏ hẹp, khúc khuỷu qua vài ngôi nhà bình dị, xuống cuối đường là khoảng bãi sông với bụi tre, cỏ cây ven mép nước.

Biển chỉ dẫn
Biển chỉ dẫn Di tích Bến đò Cố Xin. Ảnh: Minh Quân

Chừng ấy dấu tích khiến người lần đầu tìm tới khó hình dung nơi này từng là điểm vượt sông của những đoàn quân giữa bom đạn. Chưa có bia dẫn tích kể lại sự việc, lối xuống chưa có bậc. Muốn hiểu thêm về bến, phải tìm trong lời của người làng, của những người con vẫn gắn bó với nơi cha mẹ đã sống và làm việc.

Bến thuộc xóm Hưng Xuân 1, xã Hưng Nguyên Nam, ngừng đưa khách qua sông từ năm 2005. Gần 6 thập kỷ sau ngày cố Xin hy sinh trong trận bom tháng 4/1968, tên ông vẫn gắn với bến cũ. Ông Lưu Văn Tín - người con thứ hai, và bà Lưu Thị Vinh, con út của cố Xin, hiện được địa phương giao trực tiếp chăm sóc, bảo vệ di tích.

dsc_0327.jpg
Di tích Bến đò Cố Xin nhìn ra cầu đường sắt Yên Xuân. Ảnh: Minh Quân

Cố Xin tên thật là Lưu Văn Khuồi, sinh năm 1910 tại làng chài Nghĩa Sơn, tổng Phù Long xưa, thuộc xã Long Xá, huyện Hưng Nguyên trước đây, nay thuộc xã Hưng Nguyên Nam, tỉnh Nghệ An. Lớn lên giữa làng chài, ông sớm quen với mái chèo và công việc trên sông. Năm 1948, ông lên bờ dựng nhà ở làng Phúc Hậu, làm nghề chở khách qua sông. Người đi chợ, người qua lại làm ăn, có chuyến trả công bằng ít khoai, ít lạc. Hai vợ chồng nuôi năm người con từ nghề sông nước, cùng chia sẻ những nhọc nhằn của người dân đôi bờ.

Khi đế quốc Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân, vợ chồng cố Xin đảm nhận việc đưa bộ đội, hàng hóa qua sông. Chiếc thuyền dài 8 m, rộng 2 m, có thể chở tối đa hơn 30 người mỗi chuyến. Các tuyến giao thông quanh Vinh, Bến Thủy bị đánh phá, bến nhỏ trở thành nơi tiếp nối đường chi viện cho chiến trường miền Nam. Từ đây, các đoàn tiếp tục theo hướng đường 15A, qua phà Linh Cảm, Ngã ba Đồng Lộc, nối vào đường mòn Hồ Chí Minh.

Vợ chồng cố Xin cùng chèo, ông ở mũi, bà ở đuôi thuyền. Trên bờ, phụ nữ trong làng nấu nước cho bộ đội, thanh niên mang hộ ba lô xuống bến. Để một đoàn quân tiếp tục hành trình vào Nam, có những nhịp chèo bền bỉ giữa dòng và sự đùm bọc từ phía bờ. Công việc của một gia đình hòa vào việc chung của làng, của những đoàn người đi qua quê hương.

Hồ sơ lý lịch di tích ghi lại việc mang theo bèo tây, lá đùng đình để ngụy trang. Gặp pháo sáng, người trên thuyền đội lá lên đầu, thuyền dừng lại, chờ qua nguy hiểm mới tiếp tục di chuyển. Có đêm, việc đưa quân kéo dài đến gần sáng. Một lần năm 1967, hai vợ chồng nhận nhiệm vụ đưa 150 bộ đội qua sông trong 2 giờ. Xong việc, họ ngồi nghỉ, thở dốc và ăn lương khô. Những chi tiết ấy giúp hình dung phần nào sức lực của đôi vợ chồng dành cho công việc giữa dòng.

Ngày 16/4/1968, bữa cơm trưa của gia đình phải dở lại khi có yêu cầu đưa một đoàn cán bộ qua sông. Vợ chồng cố Xin nhờ thêm ông Trịnh Văn Nuôi hỗ trợ. Sau khi đưa cán bộ lên bờ, thuyền bị máy bay Mỹ đánh trúng. Cố Xin và ông Nuôi hy sinh; vợ ông bị thương nặng, mất sau đó vài tháng. Một quả bom khác phá hủy ngôi nhà. Những người con lần lượt mất cả cha lẫn mẹ, mái nhà che chở bên sông cũng không còn.

Theo hồ sơ di tích, sau đám tang cha 3 ngày, ông Tín cùng em trai Lưu Văn Tâm dựng lều trên nền nhà cũ, đóng lại thuyền, tiếp tục chở bộ đội. Bà Vinh sinh năm 1963, khi ấy mới khoảng 5 tuổi. Những người em còn nhỏ được gửi nhờ làng xóm chăm nom, để hai anh em đảm nhận việc vận chuyển người và hàng tiếp tế qua sông.

“Lúc cha mất, tôi đang đi làm ở Công ty đường sông Nghệ An. Chị gái đã lấy chồng, còn mấy anh em ở với nhau nên tôi phải về chăm lo cho các em. Việc của cha còn dang dở, anh em lại tiếp tục chèo thuyền, đưa bộ đội và hàng hóa qua sông”, ông Tín chia sẻ.

Công việc ấy được các con duy trì đến ngày đất nước thống nhất. Sau chiến tranh, bến lại đưa người dân qua lại đôi bờ, trở về với nhịp mưu sinh thường ngày. Anh em vừa làm nghề, vừa đùm bọc nhau lớn lên. Người ở quê, người đi xa, bến sông vẫn là nơi gắn với tuổi thơ và những ngày gia đình đi qua mất mát.

Hiện nay, nơi thờ vợ chồng cố Xin là một gian nhà nhỏ trong khuôn viên nhà ông Tín. Ngày giỗ, con cháu và láng giềng thân cận cùng về. Với người trong nhà, nhắc đến bến còn là nhắc về cha mẹ, ông bà. Việc chăm nom hôm nay cũng nối dài sự gắn bó với nơi người thân đã gửi lại cuộc đời.

Để người sau hiểu chuyện bến xưa

Cùng với việc chăm nom bến cũ, gia đình còn gìn giữ những kỷ vật của cha mẹ. Đó là những tấm ván còn lại của chiếc thuyền bị bom đánh vỡ tháng 4/1968. Giữa cảnh thiếu thốn thời chiến, anh em ông Tín tận dụng ván thuyền làm chỗ nằm trong căn lều cũ.

Ngày 27/12/2024, bến đò Cố Xin được UBND tỉnh xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh. Lễ đón nhận bằng được tổ chức ngày 5/3/2025, trong khuôn khổ Lễ hội Đền Thanh Liệt. Ngày hội của cư dân ven sông Lam, với lễ rước hến gửi gắm ước nguyện mưa thuận gió hòa, tôm cá được mùa, cũng là dịp người dân cùng con cháu cố Xin tưởng nhớ những người đã góp sức giữ đường qua sông trong chiến tranh.

Tại buổi lễ, ông Lưu Văn Tín thay mặt gia đình trao một mảnh ván thuyền cho Bảo tàng Quân khu 4. Theo lời kể của gia đình, họ vẫn giữ một tấm nữa, gác trên xà nhà. Một phần kỷ vật được gửi đến bảo tàng để nhiều người có thể tìm hiểu về bến cũ; phần còn lại tiếp tục được người thân gìn giữ.

dsc_0332.jpg
Ông Lưu Văn Tín - con thứ hai của cố Xin giới thiệu về tấm ván thuyền năm xưa nay gác trên xà nhà. Ảnh: Minh Quân

Gần 2 năm sau ngày được xếp hạng, di tích đã có biển chỉ dẫn lắp từ năm 2025, song chưa có bia dẫn tích, chưa có nơi thắp hương; hoạt động tham quan, giáo dục truyền thống chưa thường xuyên. Những người con vẫn chăm nom địa điểm, kể lại chuyện gia đình, trong khi nơi đón người đến tìm hiểu lịch sử còn thiếu những điều kiện cần thiết.

Báo cáo của Phòng Văn hóa - Xã hội, xã Hưng Nguyên Nam cho biết, quy hoạch chi tiết di tích đã được phê duyệt từ tháng 10/2024, với tổng diện tích gần 1.200 m², gồm cả đất và mặt nước. Trong đó, phần đất là hơn 370 m². Di tích vì thế gắn với cả một khoảng sông, nơi từng diễn ra hoạt động vận chuyển thời chiến. Việc bảo tồn cần giúp người đến nhận biết địa điểm, đồng thời giữ được mối liên hệ giữa bờ bãi và mặt nước.

Theo bà Hoàng Thị Hoài Thanh - Phó Chủ tịch UBND xã Hưng Nguyên Nam, kế hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di sản gắn với phát triển du lịch của xã đã đặt ra việc xây dựng bia dẫn tích, tạo không gian xanh tại bến đò Cố Xin trong giai đoạn 2026-2027.

“Cùng với việc tôn tạo di tích, địa phương định hướng số hóa tư liệu, tổ chức các buổi ngoại khóa tìm hiểu lịch sử, văn hóa quê hương. Với bến đò Cố Xin, chúng tôi mong việc chăm sóc địa điểm sẽ đi cùng với lưu giữ lời kể, kỷ vật của gia đình, để người đến bến hiểu rõ hơn những đóng góp của người dân năm ấy”, bà Hoàng Thị Hoài Thanh cho biết.

Một lối đi thuận tiện, tấm bia giới thiệu lịch sử và chỗ dừng chân dưới bóng cây sẽ giúp người dân, du khách có điều kiện tìm hiểu, tưởng nhớ những người đã đưa bộ đội, hàng hóa vượt sông, chi viện cho miền Nam. Khi chăm chút cảnh quan, cũng cần giữ lấy vẻ mộc mạc của bụi tre, bờ bãi. Những dấu tích còn lại, dù ít, vẫn giúp người đến sau hình dung dáng vẻ của một bến sông từng gắn với cuộc sống của làng.

Lối vào và khu vực bến sông thuộc Di tích lịch sử Bến đò Cố Xin, xã Hưng Nguyên Nam, hiện còn đơn sơ. Ảnh: Minh Quân
Lối vào và khu vực bến sông thuộc Di tích lịch sử Bến đò Cố Xin, xã Hưng Nguyên Nam, hiện còn đơn sơ. Ảnh: Minh Quân

Ông Tín, bà Vinh nay đều đã lớn tuổi. Những điều họ nhớ cần được ghi lại, đối chiếu với hồ sơ và lời kể của người làng. Khi được sắp xếp theo từng sự việc, gắn với tên người, mốc thời gian, các tư liệu ấy sẽ giúp người tìm hiểu phân biệt đâu là dấu tích còn lại, đâu là phần lịch sử cần được hình dung qua lời kể.

Một buổi học về quê hương có thể bắt đầu ngay tại bến, từ những câu hỏi gần gũi: Vì sao địa danh này mang tên Cố Xin? Chiếc thuyền từng chở những ai? Người dân đã cùng nhau giữ việc vận chuyển qua sông như thế nào? Tìm câu trả lời từ kỷ vật, hồ sơ và người biết chuyện, học sinh có thể hiểu lịch sử từ chính nơi mình sinh sống.

Sự tri ân còn ở những cuộc thăm hỏi, ở việc lắng nghe người đã góp sức cho bến năm ấy. Tư liệu về đóng góp của gia đình cũng cần tiếp tục được sưu tầm, bổ sung, góp thêm cơ sở để cơ quan có thẩm quyền xem xét, thực hiện chính sách người có công theo quy định.

Ông Lưu Văn Tín và bà Lưu Thị Vinh bên những tư liệu về người cha. Ảnh: Minh Quân
Ông Lưu Văn Tín và bà Lưu Thị Vinh bên những tư liệu về người cha. Ảnh: Minh Quân

Dòng Lam vẫn chảy qua bến cũ. Tấm ván của chiến thuyền xưa còn gác trên xà nhà, ông Tín và bà Vinh vẫn gắn bó với nơi lưu dấu cuộc đời cha mẹ. Từ tấm biển chỉ hướng bên đường, mong sẽ có thêm những bước chân tìm xuống bến, thêm người dừng lại nghe chuyện. Để ký ức đã theo anh em ông Tín qua bao năm tháng còn được kể tiếp bởi những thế hệ lớn lên bên dòng Lam.

0 0 0
x
Bến đò Cố Xin và những người giữ ký ức
Google News
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO