Bệnh Whitmore nguy hiểm như thế nào?

(Baonghean.vn) - Việc theo dõi điều trị bệnh kéo dài, tốn kém nên không ít bệnh nhân đã bỏ cuộc. Đây cũng là một trong là những nguyên nhân dẫn đến thất bại trong điều trị và tỉ lệ tử vong do Whitmore cao.

Không phải hiếm gặp

Chiều 16/9, lãnh đạo Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An cho biết, thời gian gần đây, bệnh viện đã phát hiện và điều trị cho 4 trường hợp mắc chứng bệnh Melioidosis, hay còn gọi là bệnh Whitmore. Tuy nhiên, đây không phải là những trường hợp đầu tiên bị chứng bệnh này. Năm 2017, chúng tôi đã điều trị cho một trường hợp. Còn năm ngoái là 3 trường hợp", lãnh đạo bệnh viện nói với phóng viên Báo Nghệ An.

Những trường hợp này khi đến viện đều trong tình trạng bệnh cảnh áp xe viêm tuyến nước bọt màng tai, đến viện bệnh tình đã nặng vì cứ điều trị tại nhà giống quai bị. Nhưng khi được các bác sỹ cấy mủ, xét nghiệm máu thì phát hiện dương tính với Whitmore.

Một bệnh nhân trẻ đang điều trị tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An.

Theo các bác sỹ, Whitmore là một bệnh lây nhiễm gây ra bởi vi khuẩn Gram âm Burkholderia pseudomallei (trước đây có tên gọi là Pseudomonas pseudomallei) gây bệnh cảnh nhiễm trùng máu.

Bệnh không có triệu chứng rõ ràng và dễ nhầm lẫn với nhiều bệnh khác, nhưng có thể gây tử vong nhanh chóng. Tỷ lệ tử vong của bệnh Whitmore có thể lên đến 50% - 60%. Hiện tại đang mùa mưa, là thời điểm thuận lợi để vi khuẩn Whitmore phát triển. Vi khuẩn Whitmore thường sống trong bùn đất và nước.

Các triệu chứng lâm sàng của bệnh cũng rất mơ hồ, chẩn đoán rất khó nên dễ bị chẩn đoán nhầm sang các bệnh viêm phổi, nhiễm khuẩn da mô mềm, nhiễm khuẩn xương khớp, nhiễm khuẩn huyết do tụ cầu, liên cầu...

Ngay cả khi được khẳng định chẩn đoán bệnh Whitmore, việc điều trị cũng hết sức khó khăn. Bệnh nhân thường phải dùng kháng sinh tấn công liều cao tĩnh mạch kéo dài liên tục trong ít nhất khoảng 2 - 4 tuần, sau đó dùng kháng sinh duy trì khoảng từ 3 đến 6 tháng.

Nếu không được điều trị đúng liều, đúng phác đồ và theo dõi sát sao, bệnh dễ tái phát, sức khỏe suy kiệt dần và vẫn có thể tử vong dù đã được chẩn đoán đúng.

Việc theo dõi điều trị bệnh kéo dài, tốn kém nên không ít bệnh nhân đã bỏ cuộc. Đây cũng là một trong là những nguyên nhân dẫn đến thất bại trong điều trị và tỉ lệ tử vong do whitmore cao.

Người nhiễm bệnh thường do tiếp xúc với đất bị ô nhiễm qua các vết trầy xước ngoài da, có thể gặp do hít phải bụi nhiễm vi khuẩn. Nhiễm trùng thường xảy ra trong mùa mưa.

Trong khi đó, triệu chứng phổ biến nhất của căn bệnh này xuất phát từ nhiễm trùng ở phổi, nơi có thể hình thành một khoang chứa mủ (abscess phổi). Tình trạng bệnh có thể diễn tiến từ nhẹ đến viêm phế quản hoặc viêm phổi nặng. Bệnh nhân sốt, nhức đầu, chán ăn, ho, đau ngực, và đau nhức các cơ bắp.

Ngoài ra, bệnh còn có thể biểu hiện khu trú bằng các ổ nhiễm trùng trên da (viêm mô tế bào) kèm với sốt và đau cơ. Vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể qua da hoặc được hít vào qua đường hô hấp gây viêm nhiễm ở thần kinh trung ương, tuyến mang tai, xương khớp, gây áp xe ở gan và lách, viêm nhiễm đường sinh dục, nhiễm trùng da, cơ vân.

Bệnh có thể lan tỏa từ da vào máu gây nhiễm khuẩn huyết, hoặc diễn tiến thành một hình thái melioidosis mạn gây thương tổn đến tim, động mạch chủ bụng, não, gan, thận, khớp, và mắt.

Hiện nay, bệnh Whitmore không có vaccine và không phương pháp phòng bệnh đặc hiệu.

Điều trị như thế nào?

Hiện nay, bệnh Whitmore không có vaccine và không phương pháp phòng bệnh đặc hiệu, trong khi bệnh lại dễ bị lây nhiễm khi tiếp xúc với các vi khuẩn mang bệnh qua da trầy xước, đường hô hấp, ăn uống.

Việc điều trị bao gồm dùng kháng sinh, phẫu thuật tùy thuộc vào vị trí và mức độ của bệnh. Đối với những bệnh nhân nặng hơn, cần điều trị kết hợp hai trong số các loại kháng sinh trong thời gian kéo dài đến 12 tháng.

Nếu có biểu hiện của melioidosis phổi, và nếu cấy vi khuẩn vẫn còn dương tính sau 6 tháng, cần xem xét đến việc phẫu thuật cắt bỏ thùy phổi để loại bỏ các áp xe phổi.

Để phòng ngừa căn bệnh này, các bác sỹ khuyến cáo những người làm việc tiếp xúc nhiều môi trường đất và nước phải có phương tiện bảo hộ lao động, nếu có trầy xước ngoài da cần điều trị sớm và triệt để.

Người bệnh tiểu đường, bệnh phổi và bệnh thận mạn tính có nguy cơ dễ mắc bệnh này với các biểu hiện lâm sàng đa dạng: Sốt cao, đau cơ, có các ổ nhiễm khuẩn trên da, áp xe cơ, áp xe gan lách, viêm phổi... nên cần đến các cơ sở y tế để chẩn đoán sớm.

Ở những vùng có bệnh melioidosis lưu hành, những người bị suy giảm hệ thống miễn dịch (như AIDS, ung thư, những bệnh nhân hóa trị ...) nên tránh tiếp xúc với đất và nước bị ô nhiễm, đặc biệt là ở các khu vực trang trại.