Cây làm giàu trên vùng đất ven biển Nghệ An
Điều kiện tự nhiên và thổ nhưỡng ven biển Nghệ An phù hợp cho cây dừa phát triển. Nếu trồng được hàng chục ngàn hecta dừa có năng suất quả cao sẽ là nguồn thu không nhỏ và ổn định lâu dài so với một số cây trồng hiện nay. Đồng thời tạo ra nhiều công ăn, việc làm cho bà con nông dân, ngư dân và là nơi thu hút hàng vạn khách du lịch đến vùng dừa gắn với biển để nghỉ dưỡng.
.png)
Nguyễn Thế Trung • 26/08/2026
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV đã chỉ rõ “Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong nông nghiệp, phát triển các vùng sản xuất hàng hóa lớn, chất lượng và giá trị gia tăng cao gắn với chế biến sâu và xây dựng thương hiệu sản phẩm”.
Các nội dung định hướng cho nông nghiệp trên đây là hết sức đúng đắn cần được tiếp tục nghiên cứu và nhận thức sâu sắc để tổ chức thực hiện trên thực tế. Một trong những nhiệm vụ đặt ra là xác định, lựa chọn cây trồng trên từng vùng đất của tỉnh để đầu tư thâm canh, tăng năng suất nhằm đạt sản lượng lớn, chất lượng cao, giá thành phù hợp gắn với chế biến sâu và xây dựng thương hiệu sản phẩm.
Ngày 31/7/2026, tỉnh Nghệ An đã công bố điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Nghệ An thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Tỉnh xác định vùng đồng bằng, ven biển là 1 trong 3 vùng không gian phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có định hướng cho phát triển ngành nông, lâm, thủy sản. Với tinh thần đó, đề nghị lựa chọn cây dừa để trồng trên vùng đất ven biển là khả thi và hiệu quả lâu dài.

Diện tích dừa cả nước hiện nay có khoảng trên 200.000 ha, trong đó, đồng bằng sông Cửu Long chiếm trên 80% diện tích. Các địa phương trồng nhiều dừa như Bến Tre, Trà Vinh, Tiền Giang, Vĩnh Long (theo địa danh khi chưa sáp nhập tỉnh). Bến Tre là nơi chiếm đến 42% diện tích cả nước và có nhiều sản phẩm xuất khẩu cho 70 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Trước hết, dừa là cây có giá trị kinh tế cao, mang lại nguồn thu nhập lớn nhờ có thị trường xuất khẩu rộng như Mỹ, Trung Quốc, các nước châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc… Tất cả các thành phần của cây dừa đều có thể khai thác, chế biến ra nhiều loại sản phẩm, chủ yếu là cơm dừa, nước dừa, dầu dừa, sợi dừa, than hoạt tính… Trên cơ sở đó tạo ra nhiều việc làm cho lao động nông nghiệp.
Theo số liệu từ sách hướng dẫn chế biến dầu dừa tinh khiết của FAO xuất bản năm 2006, dầu dừa tinh khiết được chiết xuất ra từ cơm dừa khô, tươi gồm các triglyceride mạch trung bình, là chất chống oxy hóa và có nhiều vitamin E tự nhiên, có hương thơm từ thoang thoảng đến đậm đà tùy thuộc vào công nghệ chế biến. Từ rất lâu, dầu dừa nói chung và dầu dừa tinh khiết nói riêng đã được sử dụng trong thực phẩm và phi thực phẩm. Dầu dừa tinh khiết được ghi nhận có giá trị sử dụng cao hơn dầu dừa truyền thống nên được sử dụng làm dầu nền cho các sản phẩm chăm sóc da, làm ẩm da, thực phẩm chức năng và mỹ phẩm khác. Dầu dừa tinh khiết còn được sử dụng làm thực phẩm dinh dưỡng nhờ khả năng kháng viêm, kháng khuẩn và chống oxy hóa, bảo vệ con người tránh xơ vữa động mạch và bệnh tim mạch…

Nước dừa hiện nay là loại thức uống mà người tiêu dùng ưa chuộng và được đưa vào làm nguyên liệu trong công nghiệp thực phẩm. Mật hoa dừa ngoài hàm lượng đường rất cao còn chứa các khoáng chất, khoáng vi lượng, đa lượng, 12 loại vitamin và 17 acid amin, rất có lợi cho sức khỏe. So với các loại nước ngọt đóng chai khác, mật hoa dừa rất bổ dưỡng và tinh khiết.
Như vậy, dừa vừa là cây ăn quả lâu năm, vừa là cây dược liệu quý. Cơm dừa, ngoài chế biến ra dầu dừa còn được chế biến ra bột dừa, nước cốt dừa… Xơ dừa được sử dụng làm vật liệu cách âm và dây thừng phục vụ cho tàu thuyền đi biển… Thân dừa làm gỗ xây dựng và sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ. Gáo dừa là nguyên liệu làm than hoạt tính. Lá dừa dùng để lợp mái nhà, chổi quét và các sản phẩm truyền thống.

Những năm vừa qua, kim ngạch xuất khẩu dừa của Việt Nam đều tăng nhanh và đạt hàng trăm triệu USD mỗi năm. Sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là dừa tươi, nước dừa đóng hộp, cơm dừa nạo sấy, dầu dừa, than hoạt tính… Cây dừa nói chung, cây dừa vùng ven biển ở nhiều nơi nói riêng như Nha Trang, Ninh Chữ,… mở ra loại hình du lịch sinh thái hấp dẫn, thu hút nhiều du khách.
Đối với Nghệ An, điều kiện tự nhiên và thổ nhưỡng ven biển phù hợp cho cây dừa phát triển. Xu thế biến đổi khí hậu toàn cầu, thiên tai liên tiếp xảy ra, nước mặn xâm nhập làm thu hẹp diện tích trồng các loại cây trồng khác thì cây dừa vẫn thích nghi với điều kiện bất lợi. Đặc biệt, cây dừa vừa tạo ra cảnh quan đẹp vừa có khả năng chống chịu gió bão rất tốt. Qua khảo sát sau các trận bão lớn năm 2025, trong lúc phi lao, bạch đàn, xà cừ… đều gãy đổ thì cây dừa vẫn đứng vững trên dải đất ven biển của Nghệ An.

Để thâm canh, tăng năng suất quả dừa, đòi hỏi người trồng phải quan tâm một số yếu tố chủ yếu:
Trước hết, phải lựa chọn giống dừa để trồng. Theo kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu dầu và cây có dầu, hiện nay, ở Việt Nam có đầy đủ các bộ giống từ dừa xiêm xanh, xiêm lục, xiêm lửa, xiêm đỏ… Một số giống dừa lai như giống PB121 (được công nhận giống quốc gia từ năm 1999, giống dừa IVA1, IVA2 được cho phép khu vực hóa từ năm 2004 đạt năng suất cao. Các giống dừa lai có thể cho từ 100-200 quả/cây/năm (gần 4 tấn/ha).
Dừa là loại cây thụ phấn chéo, việc chọn giống theo phương pháp dân gian bình tuyển các giống địa phương sẽ có tỷ lệ lẫn tạp cao hơn, mức thuần chủng thấp hơn các giống dừa lai theo phương pháp thụ phấn nhân tạo hoặc thụ phấn trợ lực. Cây giống tốt phải đảm bảo tiêu chuẩn: Năng suất cao, ổn định, cho quả sớm, kháng được một số sâu bệnh và phù hợp với điều kiện sinh thái của địa phương.
Dựa vào mục đích sử dụng để chọn giống dừa cho phù hợp như giống dừa lấy dầu thì yêu cầu có cơm dừa dày, hàm lượng dầu cao; đối với dừa uống nước thì yêu cầu giống dừa có nước ngọt, vỏ mỏng, màu sắc và hình dạng trái đẹp. Thu hoạch quả dừa làm giống phải chọn quả có kích thước trung bình, không bị sâu bệnh, tốt nhất là vào mùa khô ráo. Bảo quản quả dừa làm giống nơi thoáng mát (tránh ánh nắng trực xạ và mưa) từ 15 - 20 ngày đối với dừa lùn và 10 - 15 ngày đối với dừa cao. Quả giống sau khi bảo quản được ươm trong nhà lưới hoặc nơi có bóng râm, thường xuyên tưới nước giữ ẩm (65 - 70% độ ẩm) và phun thuốc phòng trừ sâu bệnh như bọ dừa, chuột, cháy đốm lá.
Tùy theo đất đai và điều kiện chăm sóc, có thể đưa giống từ vườn ươm ra trồng khi cây khoảng 3 - 4 lá (nếu đất tốt) và cây 5 - 6 lá (nơi đất xấu).

Dừa thích hợp trồng trên nhiều loại đất khác nhau như cát, cát pha, thịt, sét,… nhưng tốt nhất là đất cát pha, có độ pH từ 5 – 8, độ dày tầng canh tác 0,8 – 1m, đối với vùng đất phèn ít nhất 50cm. Mật độ trồng nên là 6 – 7m/cây với giống dừa lùn, 7,5 – 9m/cây đối với giống dừa cao. Trước khi trồng phải bón phân hữu cơ và phân NPK rồi trộn đất, lấp đầy hố. Ở vùng đất phèn nên bón vôi trước ở đáy hố. Mùa vụ trồng dừa tốt nhất là đầu mùa mưa. Sau khi trồng phải thường xuyên chăm sóc cho vườn dừa như tưới nước, bón phân, theo dõi sâu bệnh (như bọ dừa, kiến vương, đuông, chuột, bệnh thối đọt),…
Với nguồn lợi nhiều mặt và để các sản phẩm của cây dừa trở thành hàng hóa lớn, đòi hỏi các ngành chức năng phối hợp với các xã, phường vùng ven biển quy hoạch diện tích vùng trồng và tổ chức tập huấn cho người trồng đúng quy trình kỹ thuật. Nếu trồng được hàng chục ngàn ha dừa có năng suất quả cao sẽ là nguồn thu không nhỏ và ổn định lâu dài so với một số cây trồng hiện nay. Đồng thời, tạo ra nhiều việc làm cho bà con nông dân, ngư dân và là nơi thu hút hàng vạn khách du lịch đến vùng dừa gắn với biển để nghỉ dưỡng. Phát triển được rừng dừa còn tạo thành bức tường thành che chắn gió bão, giảm thiệt hại về con người và tài sản nơi rốn bão miền Trung.
Tin tưởng với quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị nhất định vùng dừa trên dải đất 82 km bờ biển từ Cửa Hội đến Hoàng Mai của Nghệ An sẽ trở thành hiện thực.



