Chiến dịch Hồ Chí Minh trong ký ức bi hùng của người lính xứ Nghệ
Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 trở thành mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc Việt Nam... Trong niềm vui vỡ òa khi hàng vạn người lính tiến vào Sài Gòn năm ấy có biết bao câu chuyện bi hùng mà lịch sử không thể nào quên. Mỗi dịp 30/4 về, những người lính xứ Nghệ lại có dịp quây quần bên nhau để ôn lại lịch sử hào hùng của niềm vui ngày Đại thắng và cả những nốt trầm lặng mà họ đã đi qua...
Tiếng súng vẫn nổ khi Sài Gòn đã giải phóng...
Mỗi dịp 30/4 về, ngôi nhà của cựu chiến binh Trần Ngọc Liễu ở khối Bắc Hồng, xã Đức Châu trở thành địa điểm gặp gỡ, hàn huyên của nhiều người lính đã từng băng qua lửa đạn chiến tranh, đặc biệt là những người trực tiếp tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975. Những lời nói, tiếng cười rộn rã khi các cựu chiến binh kể về chiến dịch Tây Nguyên, những trận đánh thắng lợi giòn giã ở Ban Mê Thuột, rồi cả những kỷ niệm ở chiến trường miền Đông Nam Bộ...
Tuy nhiên, không khí phấn khởi dần lắng lại khi mọi người nhắc đến kỷ niệm của những trận đánh ác liệt khi tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975. Cựu chiến binh Trần Ngọc Liễu trong trang phục Thượng úy Hải quân đã không giấu được sự xúc động, ông kể: Sài Gòn đã giải phóng trưa 30/4/1975, nhưng trận đánh giải phóng Bà Rịa Vũng Tàu vẫn kéo dài dai dẳng, đến 13h30 ngày 30/4/1975 mới kết thúc. Hơn 100 cán bộ, chiến sĩ quân giải phóng đã mãi mãi nằm lại sau trận đánh ác liệt này, mà không có cơ hội tiến vào Sài Gòn!
Đôi mắt đỏ hoe của người lính già và các đồng đội xung quanh bỗng nhiên chìm vào khoảng lặng, thật khó diễn tả nên lời…
Một lúc sau cựu chiến binh Trần Ngọc Liễu mới tiếp tục câu chuyện dang dở. Ông kể: Vũng Tàu là căn cứ Hải quân quan trọng của địch, vì từ đây quân ngụy có thể rút chạy bằng đường thủy để vào Sài Gòn và khu vực phía Nam nếu như đường bộ bị quân giải phóng cắt đứt. Tại đây có những vị trí quan trọng như căn cứ Thủy quân lục chiến, cầu Cỏ May, đài Rada, khách sạn Palace, các lô cốt phòng ngự từ trên núi cao hướng về phía biển… Ở đây địch vẫn còn 10.000 quân gồm sư đoàn Thuỷ quân lục chiến, bảo an, dân vệ... ngoan cố phản công quân giải phóng đến cùng, mặc dù lời kêu gọi đầu hàng của Tổng thống Dương Văn Minh đã vang lên trên Đài Phát thanh Sài Gòn trưa 30/4.
_watermarked.jpeg)
Trận đánh này chúng ta huy động Sư đoàn 3 Sao Vàng (Quân khu 5), lực lượng Hải quân, đặc công và một số đơn vị khác phối hợp để tiến công địch, nhưng chúng vẫn không chịu buông súng đầu hàng. Khi đánh vào cầu Cỏ May và căn cứ Cát Lở, quân ngụy điên cuồng chống trả bằng các loại hỏa lực phòng ngự mạnh mẽ và gần 40 chiến sĩ ta đã ngã xuống tại các mục tiêu này. Riêng ngày 29/4, quân ta có hơn 70 cán bộ, chiến sĩ hy sinh trong các trận đánh vào căn cứ Vũng Tàu.
Tính chất ngoan cố, điên cuồng của một chế độ tay sai còn thể hiện rõ khi chúng bố trí hệ thống phòng ngự. Trên đồi cao, địch bố trí đài Rada để quan sát toàn cảnh Biển Đông. Trên đồi nơi có tượng Thánh Giuse quân địch xây dựng 2 tòa nhà cao 7 tầng vừa quan sát, vừa là điểm phòng ngự kiểu lô cốt. Quân ta với lực lượng pháo binh yểm trợ cho bộ binh tiến công mãi cũng không dứt điểm được!
“Tấn công mãi mà không dứt điểm được, thế là quân ta có ý tưởng dùng khẩu DKZ này bắn thẳng vào các ô cửa sổ của các toà nhà. Sức hủy diệt từ những quả đạn này mới làm cho địch khiếp sợ và tan rã…”, cựu chiến binh Trần Ngọc Liễu cầm vỏ chiếc khẩu DKZ lên tay, nở nụ cười mãn nguyện khi giới thiệu hiện vật đặc biệt này cho đồng đội.

“Trận đánh giải phóng tỉnh Phước Tuy (Bà Rịa Vũng Tàu) diễn ra từ 27/4 đến 13h30 ngày 30/4 thành phố Vũng Tàu được giải phóng. Các đơn vị quân giải phóng trong đó có chiến sĩ Sư đoàn 3 (Quân khu 5) đã phải đổ bao máu xương trong trận đánh cuối cùng vượt qua dòng Cỏ May, tiến công 500 tên địch cố thủ ở khách sạn Palace để chờ tàu di tản bằng đường biển. Ngày 1/5, bộ đội Hải quân tổ chức lực lượng ra giải phóng Côn Đảo” (tổng hợp Báo Quân đội nhân dân 29/4/2018).
Cùng tham gia giải phóng Bà Rịa Vũng Tàu năm ấy còn có cựu chiến binh Phan Duy Nhâm trong đội hình Đoàn 10 đặc công rừng Sác. Trước đó, đơn vị ông tham gia các trận đánh ác liệt để tiêu diệt nhiều mục tiêu chiến lược như kho xăng Nhà Bè, cảng Dầu ở Nhà Bè, kho bom thành Tuy Hạ…Khi tham gia trận đánh giải phóng Vũng Tàu, đơn vị ông được phân công giải phóng cảng Rạch Dừa trọng yếu để ngăn chặn tình huống quân địch tháo chạy theo hướng biển.
“Do đặc công thường đánh những trận then chốt, vào những mục tiêu đặc biệt quan trọng mà kết quả của nó có thể thay đổi cục diện chiến trường nên chúng tôi phải đối mặt với hiểm nguy cực lớn. Tuy nhiên, người lính đặc công chưa bao giờ nao núng, sẵn sàng quyết tử khi bước vào trận đánh. Chắc là mọi người còn nhớ, trong Chiến dịch mùa Xuân 1975, có trận đánh bộ đội đặc công đã chiến đấu cho đến viên đạn cuối cùng, chấp nhận hy sinh 50 người và chỉ 2 người sống sót để bảo vệ cây cầu chiến lược Rạch Chiếc, chờ đoàn xe quân Giải phóng kịp tiến vào Sài Gòn…”, giọng ông Nhâm bỗng nhỏ lại, thanh âm như đứt quãng khi nhớ về những ngày tháng 4 bi tráng năm nào!
“Cầu Rạch Chiếc án ngữ cửa ngõ vào nội thành Sài Gòn. Để ngăn bước tiến của quân Giải phóng tiến về nội đô, quân địch bố trí hoả lực rất mạnh để bố phòng mục tiêu này.
Trận đánh của bộ đội đặc công Lữ đoàn 316 chiếm giữ cầu Rạch Chiếc bắt đầu từ 3 giờ 15 phút đêm 27/4/1975, kéo dài đến 5h30 sáng 30/4/1975. Qua nhiều trận đánh ác liệt, địch và ta thay nhau làm chủ mục tiêu quan trọng này. Đến 7h30 sáng 30/4/1975, lực lượng Quân giải phóng lần lượt qua cầu Rạch Chiếc an toàn để tiến vào nội đô Sài Gòn. Trong trận chiến ác liệt này, 50 chiến sĩ đặc công đã ngã xuống để giành giật từng mét cầu, mở đường cho đại quân tiến vào Sài Gòn”. (Tổng hợp thông tin bài viết trên Báo Nhân Dân ngày 1/5/2025)

Trận đánh Long Khánh và đau thương ít ai biết…
“Tỉnh Long Khánh là mục tiêu rất quan trọng, vì đây là ngã 3 liên quan đến thị xã Xuân Lộc, Bà Rịa Vũng Tàu…Trong đó, thị xã Xuân Lộc là mục tiêu đặc biệt quan trọng án ngữ phía Đông Bắc Sài Gòn. Mất Xuân Lộc thì Sài Gòn sớm muộn cũng sụp đổ..”, cựu chiến binh, Thượng tá Trương Văn Huỳnh bắt đầu câu chuyện của mình khi nhớ về những ngày tháng 4/1975. Ông cho biết, từ ngày 11/4/1975, đơn vị Tiểu đoàn 21 đoàn M26 của ông Huỳnh cùng Sư đoàn 7 Bộ Tư lệnh miền, Sư đoàn 341 (Đoàn Sông Lam) được phân công tham gia chiến dịch quan trọng này.
Vì trận đánh vào thị xã Xuân Lộc diễn ra ác liệt, dai dẳng và bộ đội ta hy sinh nhiều nên Bộ Tư lệnh chiến dịch đã thay đổi cách đánh. “Thay đổi cách đánh. Tức là ta chuyển sang lập thế trận mới, chuyển hướng tiến công từ đánh vỗ mặt sang tập trung lực lượng đánh sau lưng địch”, Thượng tá Trương Văn Huỳnh cho biết về Chỉ thị của Bộ Tư lệnh miền. Quân ta từ thế tiến công và vây hãm đã chuyển sang hình thức đánh diệt viện, nghĩa là không cho lực lượng bên ngoài có thể tiếp viện cho Xuân Lộc hoặc ngăn cản quân địch phối hợp đột phá vòng vây. Cách đánh này nhanh chóng phát huy hiệu quả.
“Trong lúc cùng quẫn, quân ngụy đã sử dụng đến loại bom CBU. Bom CBU là một trong những loại vũ khí có tính tàn phá ghê gớm từng được Mỹ đem ra sử dụng trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Chúng không chỉ ném 1 quả mà đến 2 quả vào đội hình quân ta. Hậu quả là nhiều đồng đội của Sư đoàn 341….”, kể đến đây ông Huỳnh và cựu chiến binh Trần Ngọc Liễu nghẹn lại, đôi mắt đỏ hoe!.
“Trận đánh Xuân Lộc diễn ra từ 9 đến 21/4/1975. Bộ đội ta thương vong nhiều. Riêng Sư đoàn 341 hy sinh hơn 1.000 chiến sĩ ở đây. Nguỵ quyền đã dùng đến bom CBU loại bom bị quốc tế nghiêm cấm sử dụng trong chiến tranh để ném xuống Xuân Lộc. Loại bom này đốt cháy không khí dẫn đến bộ đội ta hy sinh do ngạt khí. Ngày 12/4, chúng thả xuống Xuân Lộc 2 quả bom CBU, gây cho bộ đội ta nhiều thương vong, riêng Sư đoàn 341 có 200 cán bộ chiến sĩ hy sinh do loại bom này”.
(Thiếu tướng Phan Thanh Giảng - Nguyên Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không không quân, chiến sĩ Sư đoàn 341 tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh).
Sau khi giải phóng tỉnh Long Khánh, thị xã Xuân Lộc, trên đường tiến công về Sài Gòn, quân Nguỵ còn gây ra nhiều thiệt hại cho quân giải phóng ở mặt trận Biên Hòa. Ngoài việc gắn mìn để phá hủy cầu Biên Hòa khi cần thiết, kẻ địch còn bố trí nhiều xe tăng M41, M48, xe thiết giáp 113 án ngữ vị trí then chốt, sẵn sàng ngăn cản quyết liệt đà tiến công như vũ bão của quân giải phóng. “Lực lượng Nguỵ dựa vào các ngôi nhà kiên cố, vị trí điểm cao như nhà thờ, sẵn sàng nhả đạn vào đoàn xe quân giải phóng khi hành tiến. Nhiều bộ đội ta hy sinh. Bản thân tôi cũng suýt nữa hy sinh ở đây”, Thượng tá Trương Văn Huỳnh nhớ lại giây phút sinh tử ở Biên Hòa năm ấy.

Trước sức tiến công như vũ bão của quân ta, các mục tiêu chiến lược như Bộ Tổng tham mưu, Dinh Độc lập, Tổng nha cảnh sát, sân bay Tân Sơn Nhất… lần lượt được các đơn vị quân giải phóng tiếp nhận, làm chủ ngày 30/4.
Chiến thắng huy hoàng đã làm nên mùa Xuân lịch sử. Nhưng khi nhắc đến những thời khắc này ngoài niềm tự hào, Thượng tá Trương Văn Huỳnh không khỏi bùi ngùi nhớ về các đồng đội, những người bạn đồng hương xứ Nghệ đã mãi mãi nằm xuống trước cửa ngõ Sài Gòn khi chiến thắng đã ở rất gần...".
Không khí trầm tư nhanh chóng đi qua. Những cựu chiến binh từng tham gia chiến dịch Đại thắng năm xưa lại sôi nổi bàn luận chuyện tổ chức buổi gặp mặt nói chuyện truyền thống tại xã Đức Châu. Dịp cuối tháng 4, những người lính ấy lại có hẹn để được cùng nhau ôn lại những thời khắc hào hùng năm xưa…



