Ghi ở quê chung…
Có ngôi làng giản dị mang tên làng Sen, làng Trù, quanh quanh ngõ nhỏ lũy tre xanh rì là nếp nhà tranh mộc mạc, thoảng hương sen, hương cau, hương đất nâu - nơi những vồng khoai, lạc... tươi ngọn vươn lên trong nắng sớm. Làng ấy, quê ấy bao năm nay dường như đã trở thành quê chung, mà mỗi khi nhớ đến, lại hiện hữu êm ả mái tranh nghiêng bóng, vẳng câu ví, giặm đằm sâu cùng đồng bãi núi sông.

Nội dung + Thiết kế: Phương Chi • 14/05/2026
*****
Có ngôi làng giản dị mang tên làng Sen, làng Trù, quanh quanh ngõ nhỏ lũy tre xanh rì là nếp nhà tranh mộc mạc, thoảng hương sen, hương cau, hương đất nâu - nơi những vồng khoai, lạc... tươi ngọn vươn lên trong nắng sớm. Làng ấy, quê ấy bao năm nay dường như đã trở thành quê chung, mà mỗi khi nhớ đến, lại hiện hữu êm ả mái tranh nghiêng bóng, vẳng câu ví, giặm đằm sâu cùng đồng bãi núi sông.
“Đêm trăng lên nghe tiếng/ Đò đưa ngân rất gần/ Nhớ chuyện Người thời xa xưa/ Bác lớn lên trên quê đất mẹ hiền…” (Đêm nghe hát đò đưa nhớ Bác - cố nhạc sĩ An Thuyên). Câu hát dặt dìu đã dẫn lối tôi về với quê chung, một ngày tháng 5. Con đường rợp bóng cây xà cừ dẫn lối vào làng, vòm xanh tĩnh lặng như một lời đón chào hiền hậu. Hàng xà cừ đã đứng đó hơn 6 thập kỷ, kể từ những năm 60 của thế kỷ trước, khi lời kêu gọi Tết trồng cây của Người thấm vào đất và lòng dân Kim Liên. Trên suốt quãng đường hơn 5km dọc Tỉnh lộ 540, nối Quốc lộ 46 vào đến trung tâm xã, hàng trăm cây xà cừ sừng sững, đan tán vào nhau che bóng cho bao thế hệ. Có những gốc cổ thụ da dẻ xù xì, đường kính cả mét, phải 2 người ôm mới xuể; những tán lá cao vút tới hai, ba mươi mét cứ thế kiên tâm vươn lên giữa nắng gió miền Trung.

Đặc biệt nhất là những khúc quanh uốn lượn trên con đường này. Lãnh đạo xã Kim Liên cho biết, khi dự án mở rộng đường triển khai vào năm 2012, với lòng trân quý “di sản xanh”, họ đã chọn cách nắn đường để giữ bằng được những gốc xà cừ cổ thụ. Phải chăng, sự lựa chọn ấy đã khiến hàng cây như biết ơn Người mà bền bỉ vươn xanh qua bao mùa nắng lửa? Và khi tháng 5 về, xà cừ lại dâng tặng đất và người nơi đây một mùa hoa thầm lặng. Sắc hoa vàng dịu, nhỏ li ti, làm dịu cái gắt gao của gió Lào, để mỗi bước chân về với quê chung đều như nhẹ nhõm đi dưới vòm lá xanh xưa.

.jpg)



Làng Sen quê Người, đúng như tên gọi, bát ngát sen thơm. Giữa đầm xanh mênh mông, những đóa sen trắng thanh tao vươn cao như muôn ngọn bạch lạp được thắp lên giữa đất trời; bên cạnh đó là những đóa sen hồng khoe sắc trong nắng sớm. Những năm gần đây, diện tích đầm sen ở Kim Liên không ngừng được mở rộng. Để rồi mỗi độ tháng 5, khi những chân ruộng bắt đầu ngả màu vàng óng của lúa chín, cũng là lúc sen nở rộ nhất, tạo nên một bức tranh đồng quê đa sắc. Sen ở Làng Sen hội tụ hương sắc muôn miền. Cùng với giống sen hồng thuần chủng của đất Nghệ, người ta còn thấy bóng dáng của sen Đồng Tháp Mười, sen Huế, sen ngàn cánh hay sen Bắc Kinh... Tất cả về đây, được tay người chăm chút mà bén rễ, tỏa hương, như hội tụ tấm lòng người dân cả nước hướng về quê Bác.
.jpg)

Bên những đầm sen ngát hương ấy, tôi đã gặp nhiều người Kim Liên trung trinh giữ những kỷ niệm quý giá về Bác, nay người còn, người mất, song câu chuyện của họ chẳng thể nào phai. Là ông Nguyễn Sinh Quế - người đã gói ghém cả đời mình trong niềm tự hào vô hạn về hai lần được đón Bác về thăm quê. Chàng trai làng Sen, trong buổi sáng ngày 16/6/1957, cùng với bà con chòm xóm, đã lặng đi vì xúc động lúc nhìn thấy dáng hình Cha già dân tộc trở về với mảnh đất quê hương. Rồi đến ngày 9/12/1961, người dân Nam Đàn nói chung và ông Nguyễn Sinh Quế nói riêng lại vinh dự được đón Bác về thăm quê lần thứ hai.
Hình ảnh Bác đi đôi dép cao su, mặc bộ quần áo kaki giản dị, đứng giữa mảnh sân nhà, ân cần hỏi thăm sức khỏe từng cụ già, em nhỏ, căn dặn về đạo đức, tác phong của cán bộ trước nhân dân… không chỉ là kỷ niệm, mà đã trở thành kim chỉ nam soi sáng suốt cuộc đời ông Quế. Khi địa phương có đợt vận động hiến đất làm con đường nối quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh và quê cụ Phan Bội Châu, ông Quế đã tiên phong hiến 500m2 đất ruộng của gia đình. Hàng chục hộ khác trong thôn cũng chung tâm nguyện hồ hởi hiến đất mở rộng, nâng cấp đường. Câu chuyện của những người Làng Sen, như ông Quế, bền bỉ minh chứng rằng tình yêu đối với Bác không chỉ nằm ở những lời tụng ca, mà đã kết tinh thành lối sống đoàn kết, nhường nhịn, hy sinh vì cái chung - một phẩm chất rất Làng Sen.



Cũng ở Kim Liên năm nào, tôi đã gặp ông Nguyễn Thanh Xuân, là 1 trong 2 người quay phim ghi lại những thước phim vô giá cuối đời của Bác. Mãi mãi khắc ghi trong tâm trí ông là buổi sáng mùa Thu lịch sử tháng 9/1969. Đó là những khoảnh khắc nghẹn ngào nhất trong cuộc đời cầm máy, khi ống kính máy quay không chỉ ghi lại hình ảnh vị lãnh tụ vĩ đại đang bước vào cõi vĩnh hằng, mà còn ghi lại nỗi đau thắt lòng của cả một dân tộc.
Ông Xuân nhớ như in giây phút giơ máy quay lên mà nước mắt cứ dàn dụa làm ướt cả thước ngắm. Những thước phim đen trắng ấy sau này trở thành tư liệu quốc gia đặc biệt, được quản lý và bảo mật nghiêm ngặt, suốt hơn 20 năm, chính ông và người đồng nghiệp trực tiếp ghi hình cũng chưa một lần được xem lại. Phải đến năm 1990, khi bộ phim tư liệu “Những giờ phút cuối đời của Bác Hồ” chính thức được phát sóng, người lính quay phim năm xưa mới được xem lại những khoảnh khắc mình từng tạc vào lịch sử bằng cả trái tim và nước mắt.
Ở Kim Liên, ở Làng Sen, có biết bao câu chuyện về đất và người, mà mỗi lần về đây lại thêm thấm thía, xúc động. Nhớ cụ Trần Văn Tư, người trọn đời say mê điệu ví phường vải. Nhớ cụ Vương Thị Nhuân, cụ Hoàng Thị Út, cụ Nguyễn Thị Tam… đã “ngấm” điệu ví từ thuở lên 5, lên 7, theo chân các o, các chú đi nghe hát, để rồi một đời đắm mình vào câu ví. Tôi đã nhiều lần nghe các cụ cất tiếng run run: “Con ơi mẹ dặn câu này/ Chăm lo đèn sách cho tày áo cơm. Làm người đói sạch rách thơm/ Công danh là nợ nước non phải đền”...
Người Kim Liên lớn lên từ củ sắn, củ khoai, từ tảo tần lở bồi đồng bãi, nhưng luôn biết vin vào câu ví, giặm truyền đời để nhắc mình không quên thủy chung tình nghĩa, để dẫu cuộc đời có gieo neo thác ghềnh, vẫn giữ trọn cốt cách thanh cao, biết soi mình vào dòng trong mà giữ gìn phẩm giá: “Ai biết nước sông Lam răng là trong, là đục/ Thì biết sống cuộc đời răng là nhục, là vinh. Đò em lên thác xuống ghềnh/ Nước non là nghĩa, là tình ai ơi!”…
Hơn trăm năm trước, có một người Kim Liên bé nhỏ hằng đêm “theo phường đi nghe hát” - cậu bé Nguyễn Sinh Cung - lớn lên từ điệu ví phường vải, bên nhịp thoi đưa, để rồi cả cuộc đời đau đáu nhớ thương, đến những giây phút cuối đời cũng “muốn nghe một câu hò xứ Nghệ”. Tôi đã gặp bà Mai Tư, một trong những nghệ sĩ của Đoàn Văn công Quân khu 4, người đã cùng các đồng nghiệp của mình vượt qua bom đạn của chiến tranh phá hoại, vào ngày 18/5/1969, có mặt ở Phủ Chủ tịch để hát mừng thọ Bác. Mai Tư hát dặm đò đưa, hát ví phường vải… Điệu ví đong đầy cái bao la hùng vĩ của núi Hồng, sông Lam, cái mênh mang của đồng bãi quê nhà, cái bàng bạc của ánh trăng đêm rằm… Câu hò sâu nặng nghĩa tình thuỷ chung, thẳng ngay cương trực, cả xiết bao tài hoa của người Nghệ. Sau buổi nghe hát ví, giặm ấy, sức khoẻ của Bác yếu đi nhiều, và không bao lâu sau đã nhẹ bước vào cõi người hiền.

Ở quê chung, những nhân chứng lịch sử tôi đã gặp, đã nghe, nay phần lớn đã khuất núi, nhưng không vì thế mà vỉa tầng ký ức của họ bị lãng quên. Những người làm công việc kể chuyện về Bác, như chị Đảm, chị Thao, chị Định, chị Oanh, chị Hải… luôn sưu tầm, tổng hợp, lưu nhớ những câu chuyện về Người, để lan toả đến du khách muôn phương thêm hiểu về một nhân cách vĩ đại của dân tộc.
Ai về đây mà chẳng ấn tượng với giọng thuyết minh đằm chất Nghệ của các chị, ai mà chẳng từng một lần rưng rưng nước mắt khi nghe các chị kể về tuổi thơ của Bác, về hai lần Bác về thăm quê sau bao năm bôn ba... Và chính các chị, cũng bao lần nghẹn ngào khi gặp những vị khách đặc biệt: Người cựu binh mù đôi con mắt, được con cháu dẫn về thăm quê Bác, cứ mãi nắm lấy tay các chị mà nói rằng “đã thoả nguyện ước từ tuổi đôi mươi trên chiến trường”; người mẹ già miền Nam run run dâng bó sen tươi lên bàn thờ Bác, lầm rầm khấn nguyện quốc thái dân an…
Các chị bảo, mọi người thường cảm ơn thuyết minh viên bởi đã giúp họ thêm hiểu, thêm yêu kính Bác, nhưng chẳng phải sao, chính hàng triệu lượt du khách đến đây cũng giúp các chị thêm ngưỡng vọng Người, thêm yêu, thêm trân trọng công việc thiêng liêng, ý nghĩa mà mình đảm trách.





Làng Sen, Kim Liên, tháng 5, dòng người về đây tưởng như bất tận. Ta nghe bao la giọng nói muôn miền. Ta thấy những tà áo bà ba và khăn rằn duyên dáng của người con gái miền Nam, sắc áo chàm bình dị của đồng bào vùng cao phía Bắc. Tất cả hội tụ về đây, kết thành một dòng chảy tâm linh ngược về nguồn cội, nơi mà mỗi người dân nước Việt đều tự hào gọi bằng hai tiếng thân thương: Quê chung. Phải rồi, quê chung, nơi mà dù ta là ai, đến từ vùng miền nào, khi đứng trước nếp nhà tranh mộc mạc, thoảng hương sen, hương đất nâu, đều thấy lòng mình lắng lại trong một sự giao thoa kỳ diệu.


