Giáng Vân: Khoảng giữa thi ca và hội họa
Bốn tập thơ trải hơn 3 thập niên; chưa đầy 10 năm cầm cọ đã có 7 triển lãm cá nhân cùng nhiều cuộc trưng bày nhóm. Đọc thơ, xem tranh và trò chuyện với nhà báo - nhà thơ - họa sĩ Giáng Vân (SN 1959), tôi nhận ra phía sau những con số ấy là nền tảng văn hóa gia đình, sự nghiêm khắc với tài năng và nhu cầu tự do trong sáng tạo.

Lê Trang / Trình bày: Hồng Toại • 16/10/2026
*****
Bốn tập thơ trải hơn 3 thập niên; chưa đầy 10 năm cầm cọ đã có 7 triển lãm cá nhân cùng nhiều cuộc trưng bày nhóm. Đọc thơ, xem tranh và trò chuyện với nhà báo - nhà thơ - họa sĩ Giáng Vân (SN 1959), tôi nhận ra phía sau những con số ấy là nền tảng văn hóa gia đình, sự nghiêm khắc với tài năng và nhu cầu tự do trong sáng tạo.
.png)
Cái tên Giáng Vân bắt đầu từ một đám mây. Khi con gái chào đời, nhà văn Nguyễn Trọng Oánh đang ở trên núi Tam Đảo, thấy một đám mây đẹp nên đặt tên con như vậy. Tôi thích phút xao động ấy của người cha. Nhưng trong câu chuyện của chúng tôi, ký ức tuổi thơ của bà, những người hiện lên rõ nhất lại là ông ngoại và người cậu.
Hồi nhỏ ốm yếu, mẹ đã có thêm hai em, cha thường xa nhà, Giáng Vân sống cùng ông ngoại ở một làng quê ở Nghi Lộc, Nghệ An. Ông ru cháu bằng “Truyện Kiều”, “Phạm Công Cúc Hoa”, “Phạm Tải Ngọc Hoa”… Ông làm vườn đẹp, đan đồ gia dụng cũng đẹp. Nhiều năm sau, khi người cháu đã cầm cọ vẽ, vẫn nhớ những đồ vật ấy như tác phẩm mỹ thuật. Vậy là, từ thuở chưa biết gì về tạo hình, bà đã được nhìn cái đẹp qua bàn tay lao động của ông.

Người cậu lại mang đến một thế giới chữ nghĩa rộng lớn. Theo lời bà, vì thành phần gia đình, cậu không được học đại học, ở nhà làm vườn. Cậu có trí nhớ mà với bà, là thuộc dạng “phi phàm”, cậu thuộc “Truyện Kiều” đến độ có thể đọc ngược, đọc xuôi làu làu, am hiểu điển tích, mê Nguyễn Trãi, Cao Bá Quát, thuộc nhiều thơ Đường. Đêm đến, cậu thắp đèn măng xông tưới vườn, đọc thơ vang cả xóm. Người cùng cậu chuyện trò văn chương có vài người bạn và cô cháu nhỏ. Từ lớp năm, Giáng Vân đã đọc, bàn với cậu về bộ tiểu thuyết “Chiến tranh và hòa bình” của nhà văn Nga Lev Tolstoy.
Tôi hình dung sức hấp dẫn của sách với một đứa trẻ được người lớn coi là bạn chuyện trò. Mẹ bà dạy Toán, Lý, kiêm thủ thư; nhà ông ngoại từng là nơi đặt thư viện Đại học Sư phạm Vinh thời sơ tán. Sách ở quanh bà, và bà đọc bất cứ lúc nào có thể…

Người cha lại giữ một vị trí khác. Bà kể, thời nhỏ, gửi thơ vào chiến trường B2 cho cha thì nhận được thư trả lời: “Cha có nhận được thơ của con”. Mãi sau, ông mới giải thích rằng: Thơ con khi ấy có thể đăng báo, nhưng nổi tiếng sớm dễ hư. “Nếu con có nội lực thực sự thì nó sẽ phát triển tự nhiên” - ông nói.
Lần khác, khoảng năm 1980, bài “Trung du” được đề nghị giải Nhất trong cuộc xét giải thơ của Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Cha bà là trưởng ban giám khảo, ông gạt đi: “Nhất nhì gì nó, cho nó quyển lịch là được rồi”.
Bà kể không một lời trách móc. Điều tôi nghe rõ hơn là lòng biết ơn người cha muốn con tự đứng vững. Bà dè dặt khi nói về ảnh hưởng gia đình, bởi những điều ấy vô hình, khó đo đếm. Nhưng tôi hiểu, mạch nguồn xứ Nghệ đã đi vào đời sống nghệ thuật ấy qua niềm ham học, sự quý trọng chữ nghĩa và lòng tự trọng của người cầm bút.

-603e13d1c19269cc3557b8e384ee0482.png)
“Thơ cũng trời cho, mà vẽ cũng trời cho. Đâu biết nó đến khi nào?”- bà nói. Còn công việc kiếm sống, bà xác định rõ: “Nghề của tôi là làm báo”. Phóng viên, biên tập, thư ký toà soạn, bà tự tin mình đều làm tốt.
Đến nay, Giáng Vân đã xuất bản bốn tập thơ: “Năm tháng lãng quên” (1990); “Trên những ngày buồn” (1995) - Giải thưởng Văn học nghệ thuật giai đoạn 1991-1995 của Hội Liên hiệp VHNT Hà Nội; “Đường gió” (2013) - Giải thưởng hàng năm Hội Liên hiệp VHNT Hà Nội; “Cây từ bi nở hoa” (2024). Qua những quãng dài ấy là sự mở rộng của một cái tôi: Từ tổn thương tình yêu đến suy tư về thân phận, tự do và khả năng sống tử tế giữa đời.
-5d733bb917bd2e4d6feb04c9b1b6c73e.jpg)
Cảm xúc trong thơ bà thường tìm đường qua trực giác, giấc mơ, những hình ảnh biến đổi. Nhà thơ Mai Văn Phấn gọi vẻ đẹp ấy là “trong suốt và tĩnh lặng”. Nhưng trong chùm thơ bà gửi, tôi gặp những câu hỏi gắt gao về cái ác, sự lọc lừa và những tổn thương con người gây cho nhau: “Bọn tàn độc, tham lam người có làm gì được họ?” (Thơ), hay “Phản bội / Lọc lừa / Đê tiện / Khiến tim con bao lần chảy máu…” (Mẹ đã mơ một giấc mơ). Giáng Vân nhìn thấy sự tàn nhẫn rồi vẫn tin vào khả năng thương yêu. Thơ bà có lúc mong manh mà không yếu đuối. Cũng trong bài “Mẹ đã mơ một giấc mơ”, viết cho con gái Huệ An, bà viết: “Mẹ biết không gì có thể bẻ gãy được một tia nắng/ Một tia nắng biết sưởi ấm cuộc đời này”. Đặc biệt, Giáng Vân là tác giả bài thơ “Yên tĩnh”, được nhạc sĩ Phú Quang phổ nhạc thành ca khúc nổi tiếng “Đâu phải bởi mùa Thu”.
Gần sáu mươi tuổi, bà phát hiện mình biết vẽ. Với giới hội hoạ, đó là một “vỉa đầy năng lượng” chờ dịp bộc phát. Trước khi cầm cọ, bà đã tham gia làm “Từ điển mỹ thuật thế giới”, tổ chức triển lãm, làm việc trong không gian nghệ thuật. Khi bắt đầu vẽ, những tích lũy ấy lập tức tìm được hình thức biểu đạt.

Từ lớp học vẽ năm 2017 của các “cụ hưu” (lời bà), đến nay, Giáng Vân lần lượt có các triển lãm cá nhân: “Chân dung và tĩnh vật”, “Biến điệu của màu” (2018); “Giáng Vân - 2021” (2021); “Đời Gốm” (2022); “Giáng Vân - 2023” (2023); “Giáng Vân, chân dung, tĩnh vật, và siêu thực” (2024); “Phố, Người, và Hoa” (2025), cùng nhiều triển lãm nhóm.
“Trời cho” là cách bà gọi phần bí ẩn của năng lực sáng tạo. Câu chuyện đời sống nghệ thuật của họa sĩ Giáng Vân còn cho thấy cả sự đọc, sự học và trải nghiệm. Điều khiến tôi có thiện cảm là cách bà kể về việc bắt đầu: Một người đã có tên tuổi trong thơ vẫn ngồi vào lớp học vẽ, chấp nhận những nét vụng về đầu tiên…

Phong cách Giáng Vân có thể nhận diện từ cách bà nhìn thế giới: Sự vật luôn mang theo một trạng thái tinh thần. Hoa, nước, phố, gương mặt người xuất hiện với những bất an, thương cảm, ký ức riêng. Trong thơ, trạng thái ấy vận động bằng liên tưởng; trong hội họa, nó thành hình, thành màu.
Thơ bà có sức gợi hình, nhưng hình ảnh hiếm khi đứng yên. Trong “Nước”, bà viết: “Nàng đi vào nước/ Nàng tan trong nước/ Tóc nàng thành rong rêu”. Những biến hóa nối tiếp làm ranh giới giữa người và thiên nhiên trở nên bất định, gợi cảm giác thân thể và tâm hồn có thể đổi dạng.

Tranh bà thường được nhận xét ở gam trầm, mảng hình lớn, bút pháp mạnh, đan xen biểu hình với trừu tượng. Trong bài “Quãng trầm”, Tobi Trần viết: “Bà luôn tìm cách vẽ trạng thái tồn tại của sự vật”. Một gương mặt, nhành hoa hay khối kiến trúc hiện diện bằng sức nặng của màu, nhịp đường nét, khoảng cách giữa các hình thể. Cảm giác ngột ngạt trước đô thị thúc đẩy những tác phẩm về thành phố; gam trầm chứa cả sự bức bối của đời sống hiện đại.
Khi tôi hỏi về thơ ca và hội họa của bà gặp nhau và tách khỏi nhau ở đâu? Bà nói: Tách nhập gì ở đây, nó là sự khác biệt giữa hai ngôn ngữ. Và bà nhắc đến trực cảm và những điều khó diễn giải, rất khó để cho người ngoại đạo hiểu được.
Thời gian gần đây, họa sĩ Giáng Vân dành gần như toàn bộ thời gian cho hội họa. Tôi lại nghĩ đến kho sách tuổi thơ và người cha đã chờ năng lực của con tự lớn. Nhiều năm đã qua, bà vẫn còn nhiều điều để phát hiện ở mình. Trước tấm toan mới, bà lại bắt đầu…



Nhà báo, nhà thơ, họa sĩ Nguyễn Thị Giáng Vân
Năm sinh: 1959
Quê quán: Nghi Lộc, Nghệ An. Hiện sống và làm việc tại Hà Nội.
Tác phẩm thơ đã xuất bản: Năm tháng lãng quên (1990); Trên những ngày buồn (1995); Đường gió (2013); Cây Từ bi nở hoa (2024). Ngoài sáng tác thơ, bà còn dịch thuật, viết phê bình, tiểu luận về văn chương và nghệ thuật.
Hội họa:
Triển lãm cá nhân: 7 triển lãm, gồm Chân dung và tĩnh vật (2018), Biến điệu của màu (2018), Giáng Vân – 2021, Đời gốm (2022), Giáng Vân – 2023, Giáng Vân, chân dung, tĩnh vật và siêu thực (2024), Phố, Người và Hoa (2025).
Triển lãm nhóm: Tham gia nhiều triển lãm tại Hà Nội và nước ngoài; đáng chú ý có các cuộc trưng bày tại ChuArt Space, Nhà sàn Studio, Long Biên Affairs và Form & Formlosigkeit tại Berlin, Đức năm 2026.
Giải thưởng: Trên những ngày buồn – Giải thưởng Văn học nghệ thuật 1991–1995 của Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội; Đường gió – Giải thưởng thường niên của Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội năm 2013.
Giáng Vân là tác giả bài thơ Yên tĩnh, được nhạc sĩ Phú Quang phổ nhạc thành ca khúc nổi tiếng “Đâu phải bởi mùa Thu”.


