Góc nhìn từ chuyên gia về vấn đề cung cầu vốn
Nền kinh tế đang bước vào giai đoạn tăng tốc với mục tiêu tăng trưởng 2 con số, kéo theo nhu cầu vốn tín dụng rất lớn. Trong bối cảnh tổng dư nợ có thời điểm vượt tổng huy động, việc giải bài toán lãi suất, kiểm soát nợ xấu và thay đổi tư duy tiếp cận nguồn vốn đang là đòi hỏi cấp thiết từ cả cơ quan quản lý, ngân hàng lẫn doanh nghiệp. Phóng viên Báo và phát thanh, truyền hình Nghệ An đã có cuộc trao đổi với Chuyên gia kinh tế, TS Nguyễn Minh Phong xung quanh các giải pháp trọng tâm này.

Kim Hoa (Thực hiện) / Trình bày: Hồng Toại • 3/9/2026
*****
Nền kinh tế đang bước vào giai đoạn tăng tốc với mục tiêu tăng trưởng 2 con số, kéo theo nhu cầu vốn tín dụng rất lớn. Trong bối cảnh tổng dư nợ có thời điểm vượt tổng huy động, việc giải bài toán lãi suất, kiểm soát nợ xấu và thay đổi tư duy tiếp cận nguồn vốn đang là đòi hỏi cấp thiết từ cả cơ quan quản lý, ngân hàng lẫn doanh nghiệp. Phóng viên Báo và phát thanh, truyền hình Nghệ An đã có cuộc trao đổi với Chuyên gia kinh tế, TS Nguyễn Minh Phong xung quanh các giải pháp trọng tâm này.
TS Nguyễn Minh Phong: Tính đến tháng 6 năm nay, tổng số tiền gửi của người dân và doanh nghiệp vào hệ thống ngân hàng đã đạt khoảng 17,44 triệu tỷ đồng, tăng khoảng 7,1% so với cuối năm ngoái. Tuy nhiên, trong cùng thời điểm so sánh, dư nợ tín dụng đã vươn lên mức khoảng 20,5 triệu tỷ đồng. Điều này có nghĩa là tổng nhu cầu tín dụng đang vượt quá tổng huy động vốn, và đây chính là nguyên nhân trực tiếp khiến lãi suất huy động chịu áp lực tăng, kéo theo lãi suất cho vay. Để cải thiện tình trạng này, theo tôi, các cơ quan chức năng cần tập trung triển khai đồng bộ bốn nhóm giải pháp.

Trước hết, cần giảm chi phí vốn đầu vào cho ngân hàng, bao gồm tiết giảm chi phí kinh doanh, xem xét giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc và không áp trần cứng lãi suất huy động. Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước cần điều tiết thanh khoản linh hoạt, ổn định thị trường tiền tệ nhằm hạn chế các cuộc đua lãi suất gay gắt giữa các tổ chức tín dụng, nhất là các ngân hàng có quy mô nhỏ.
Song song với đó, Ngân hàng Nhà nước nên yêu cầu các ngân hàng thương mại minh bạch hơn về cấu phần lãi suất cho vay, đồng thời phân luồng tín dụng ưu tiên cho các doanh nghiệp có phương án kinh doanh khả thi kèm cơ chế chia sẻ rủi ro. Các ngân hàng cũng cần giải trình rõ cơ cấu cho vay để cơ quan quản lý giám sát, đảm bảo mức lợi nhuận không vượt quá mức trung bình chung của thị trường.

Ngoài ra, cần tập trung giảm thiểu chi phí và rủi ro tín dụng từ cả phía doanh nghiệp lẫn ngân hàng, tạo thêm dư địa để các tổ chức tín dụng chủ động giảm bớt phần bù đắp rủi ro.
Bên cạnh việc giảm chi phí và rủi ro tín dụng từ cả hai phía ngân hàng lẫn doanh nghiệp để tạo thêm dư địa hạ giá thành vốn, các ngân hàng thương mại cần chủ động gia tăng và đa dạng hóa các nguồn thu dịch vụ ngoài hoạt động huy động và cho vay truyền thống, giảm bớt sự phụ thuộc vào biên độ ăn chênh lệch lãi suất. Trong thời gian tới, mặt bằng lãi suất sẽ tiếp tục chịu sức ép lớn từ mục tiêu tăng trưởng 2 con số, áp lực giải ngân đầu tư công, lạm phát ngoại nhập và nhu cầu vốn tín dụng tăng cao. Do đó, việc tiếp tục giám sát chặt chẽ thị trường và khuyến khích các tổ chức tín dụng chia sẻ lợi ích với khách hàng là vô cùng cần thiết.

TS Nguyễn Minh Phong: Ngân hàng là lĩnh vực kinh doanh đặc thù dựa trên niềm tin và các chuẩn mực quản trị chặt chẽ. Việc xử lý bài toán cân bằng giữa kiểm soát nợ xấu, bảo đảm an toàn hệ thống với việc đưa nguồn vốn ra thị trường càng nhiều càng tốt là một thách thức lớn, đòi hỏi nỗ lực rất lớn từ cả Ngân hàng Nhà nước lẫn hệ thống tổ chức tín dụng thông qua bốn giải pháp trọng tâm sau đây.

Điểm quan trọng là các ngân hàng cần chuyển đổi từ quản lý tăng trưởng tín dụng theo số lượng sang quản lý theo chất lượng, triệt tiêu rủi ro đạo đức. Những ngân hàng có năng lực tài chính tốt, quản trị chuẩn mực và chất lượng tài sản lành mạnh cần được tạo điều kiện tăng trưởng chủ động hơn, trong khi các ngân hàng yếu kém hơn cần có sự kiểm soát chặt chẽ để tránh tình trạng cào bằng rủi ro.

Thay vì phụ thuộc cứng nhắc vào tài sản thế chấp, cần thực hiện phân loại khách hàng dựa trên dữ liệu và mức độ rủi ro tín dụng thực tế, thay vì chỉ phụ thuộc cứng nhắc vào tài sản thế chấp. Tiêu chuẩn xét duyệt cần chú trọng vào tính minh bạch dòng tiền, tính khả thi của phương án kinh doanh và lịch sử tín dụng tốt. Những khách hàng đạt chuẩn ở các tiêu chí này nên được nới lỏng các điều kiện thế chấp để dòng vốn được khơi thông đúng đối tượng, đúng hướng.

Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước cần tạo hành lang thuận lợi để các ngân hàng thương mại xử lý nhanh nợ xấu, giúp khơi thông vòng quay vốn và giảm chi phí tín dụng tổng thể. Cần quán triệt nguyên tắc: Không hạ thấp tiêu chuẩn an toàn để thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, mà phải làm cho chi phí đánh giá rủi ro thấp hơn nhờ ứng dụng công nghệ, dữ liệu và hệ thống xếp hạng tín dụng hiện đại.

Cuối cùng, cần thực hiện cơ chế thưởng, phạt nghiêm minh theo chất lượng tín dụng, áp dụng cho cả ngân hàng thương mại và trong nội bộ từng tổ chức. Những đơn vị có tỷ lệ nợ xấu thấp, quản trị hiệu quả và khách hàng có lịch sử tín dụng tốt cần được chủ động hơn trong hạn mức tăng trưởng, đồng thời giảm thiểu các điều kiện thủ tục rườm rà để doanh nghiệp kịp thời nắm bắt cơ hội thị trường.
P.V: Thực tế cho thấy, rào cản về tài sản đảm bảo và thủ tục giải ngân lâu nay vẫn là "nút thắt" khiến nhiều doanh nghiệp khó tiếp cận vốn. Theo ông, cả ngân hàng và khối doanh nghiệp cần có sự thay đổi cốt lõi nào trong phương thức cung ứng và tiếp cận nguồn vốn?
TS Nguyễn Minh Phong: Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không chỉ nằm ở lãi suất mà còn ở quan hệ tín dụng truyền thống vốn còn khá nặng nề tư duy "phải có tài sản thế chấp mới được vay vốn". Để khơi thông dòng vốn, cả hai phía đều cần có sự điều chỉnh căn bản về tư duy và lề lối làm việc.

Về phía ngân hàng, cần chuyển mạnh từ hình thức cho vay chủ yếu dựa vào tài sản đảm bảo sang cho vay dựa trên dòng tiền và sức khỏe thực tế của doanh nghiệp. Những đơn vị có dòng tiền tốt, đơn hàng ổn định, báo cáo tài chính lành mạnh và lịch sử tín dụng uy tín cần được nâng cao độ tín nhiệm trả nợ, từ đó giảm bớt gánh nặng thế chấp. Bên cạnh đó, các ngân hàng cần đẩy mạnh số hóa quy trình thẩm định để tiết giảm chi phí giao dịch, đồng thời phát triển các mô hình cho vay theo chuỗi cung ứng, cho vay theo đơn hàng và khoản phải thu để tận dụng uy tín của các đối tác lớn trong chuỗi nhằm hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ.
Đặc biệt, ngân hàng phải thực sự coi doanh nghiệp là bạn đồng hành, chia sẻ rủi ro và trách nhiệm theo nguyên tắc lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ. Về phía doanh nghiệp, cần tích cực chuyển từ tư duy "đi vay bằng tài sản" sang "đi vay bằng phương án kinh doanh". Doanh nghiệp phải nỗ lực nâng cao chất lượng quản trị nội bộ, minh bạch hóa tài chính và quản lý toàn bộ dòng tiền vay qua tài khoản ngân hàng để chứng minh đầu ra, đơn hàng và uy tín tín dụng. Khi dòng tiền thực tế được chứng minh rõ ràng, sự phụ thuộc vào tài sản thế chấp sẽ tự khắc được cắt giảm.

P.V: Nhìn về xu hướng sắp tới, ông dự báo như thế nào về sự dịch chuyển của dòng tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế? Những kênh đầu tư nào sẽ có tiềm năng hồi phục, bứt phá để thu hút dòng vốn?
TS Nguyễn Minh Phong: Trong bối cảnh nền kinh tế tăng tốc để đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số cùng nhu cầu đẩy mạnh đầu tư công và mở rộng tín dụng, tiền gửi ngân hàng vẫn sẽ tiếp tục là kênh tập trung dòng tiền nhàn rỗi quan trọng hàng đầu. Lãi suất huy động dự báo vẫn duy trì ở mức hấp dẫn do chênh lệch cung - cầu vốn còn khá lớn. Tuy nhiên, dòng tiền trong xã hội cũng sẽ có sự phân hóa và dịch chuyển sang các kênh đầu tư có khả năng bứt phá cao hơn.
Thứ nhất, thị trường chứng khoán sẽ thu hút dòng tiền nếu các doanh nghiệp niêm yết thực sự cải thiện được đơn hàng, nâng cao chất lượng quản trị và ghi nhận lợi nhuận tăng trưởng thực chất.


Thứ hai, bất động sản sẽ không bùng nổ đồng loạt trên mọi phân khúc, nhưng sẽ tập trung hút dòng tiền vào các sản phẩm đáp ứng nhu cầu thực tế như nhà ở xã hội, nhà ở có mức giá phù hợp, pháp lý minh bạch và tiện ích đồng bộ.

Thứ ba, vàng tiếp tục đóng vai trò là kênh trú ẩn an toàn để bảo toàn giá trị tài sản trong bối cảnh thị trường có nhiều biến động và áp lực lạm phát, đặc biệt phù hợp với những nhà đầu tư ít vốn hoặc hạn chế kinh nghiệm kinh doanh.


Nhìn chung, năm nay đánh dấu sự dịch chuyển trong tư duy của người dân từ "giữ tiền thuần túy" sang "quản trị tài sản" nhằm gia tăng giá trị. Thay vì dồn toàn bộ vốn vào một kênh duy nhất, xu hướng phổ biến của người dân sẽ là chia nhỏ danh mục để đa dạng hóa đầu tư, vừa đảm bảo mức độ an toàn, vừa nắm bắt cơ hội sinh lời trong bối cảnh thị trường có nhiều chuyển động mới. Tuy nhiên, tiết kiệm ngân hàng và vàng vẫn sẽ là những lựa chọn trọng tâm đối với đại đa số người dân có vốn nhàn rỗi ở mức vừa phải.


