Xã hội

Hai vị tướng người Nghệ trong sử sách Trung Hoa

Trần Mạnh Cường | Hữu Quân 22/07/2026 07:45

2vituongnguoinghe-cover.png

Nội dung: Trần Mạnh Cường | Thiết kế: Hữu Quân
• 22/07/2026

Trong lịch sử chống giặc Minh đầu thế kỷ XV, Nguyễn Cảnh Chân và Đặng Tất là 2 trụ cột lớn của nhà hậu Trần. Một người quê Nghệ An, giỏi mưu lược; một người quê Hà Tĩnh, có tài thao lược. Cả hai cùng phò Giản Định Đế, cùng góp phần làm nên chiến thắng Bô Cô vang dội, khiến quân Minh khiếp sợ. Nhưng ít ai chú ý rằng, trước khi trở thành những thủ lĩnh kháng Minh, tên tuổi của họ đã từng xuất hiện trong một ghi chép rất đáng chú ý của sử sách Trung Hoa, đó là cuốn Việt kiệu thư của Lý Văn Phượng.

2vituongnguoinghe-t1.png

Trong Việt kiệu thư, Lý Văn Phượng chép lại chiếu chỉ của Minh Thành Tổ ban ngày 29 tháng 9 năm Vĩnh Lạc thứ 5, tức năm 1407, gửi cho Trương Phụ, Trần Húc, Lưu Tuấn cùng các quan nhà Minh đang đô hộ ở nước ta. Chiếu chỉ này yêu cầu tìm bắt một số nhân vật có tài năng, có thế lực của Đại Việt để đưa về kinh đô nhà Minh, nguyên văn như sau:

“近黎季所保新平范世矜、顺化邓悉及陈日招、陈叔瑶、陈季琰、阮景真、阮均同、彦翊,并大祝全、范僩之子号日月者,尔等可用心访求,将此数人作怀才抱德等名目,悉以起送来京,仍密遣人监护,以防其逃窜,务在致其必来也...”

Dịch nghĩa: Gần đây, Lê Quý Ly có bảo lãnh những người Phạm Thế Căng ở Tân Bình, Đặng Tất ở Thuận Hóa, cùng Trần Nhật Chiêu, Trần Thúc Dao, Trần Quý Diễm, Nguyễn Cảnh Chân, Nguyễn Quân Đồng, Nhan Dực và một số người khác. Các ngươi phải dốc lòng tìm kiếm, lấy danh nghĩa “có tài có đức” để đưa tất cả về kinh, lại bí mật sai người giám hộ, đề phòng họ trốn thoát, cốt sao khiến họ nhất định phải đến.

Chỉ một đoạn ngắn, nhưng đủ làm lộ rõ bản chất chính sách của nhà Minh. Đây không phải là lời “chiêu hiền đãi sĩ”, bởi những chữ như “dốc lòng tìm kiếm”, “bí mật giám hộ”, “phòng trốn thoát”, “nhất định phải đến” cho thấy đó là một mệnh lệnh truy bắt. Nhà Minh muốn gom những người có tài, có uy tín, có khả năng tập hợp dân chúng đưa về Bắc Kinh, vừa để khống chế, vừa để cắt đứt mạch lãnh đạo của các cuộc nổi dậy.

2vituongnguoinghe-a1.png
Chiếu chỉ của Minh Thành Tổ ban ngày 29 tháng 9 năm Vĩnh Lạc thứ 5, tức năm 1407, chép lại trong sách Việt kiệu thư, có đề cập tới Nguyễn Cảnh Chân và Đặng Tất.

Đáng nói hơn, danh sách ấy được ghi là do Lê Quý Ly, tức Hồ Quý Ly, “bảo lãnh”. Khi đó, cha con Hồ Quý Ly đã bị quân Minh bắt. Dù ở hoàn cảnh nào, việc để nhà Minh nắm được danh sách những nhân vật quan trọng của Đại Việt vẫn gây hậu quả rất nghiêm trọng. Nó giúp kẻ xâm lược nhận diện những người cần mua chuộc, giám sát hoặc loại bỏ.

Trong danh sách ấy, hai cái tên Nguyễn Cảnh Chân và Đặng Tất đặc biệt nổi bật. Bởi chỉ ít lâu sau, chính họ trở thành hai gương mặt chủ chốt trong khởi nghĩa nhà Hậu Trần chống Minh. Điều đó cho thấy con mắt của nhà Minh không nhầm: Chúng đã sớm nhận ra đây là những người nguy hiểm đối với chính sách đô hộ của chúng.

Nhà Minh không chỉ đem quân đánh chiếm Đại Việt bằng gươm giáo, mà còn chủ động truy lùng, khống chế, đưa nhân tài nước ta về Bắc Kinh. Đó là một thủ đoạn thâm hiểm nhằm triệt tiêu đầu não kháng chiến, làm rỗng sức đề kháng của một dân tộc từ bên trong.

Nhưng lịch sử cũng chứng minh một điều khác: Nhà Minh có thể điểm tên họ trong chiếu chỉ, có thể truy lùng họ, nhưng không thể khuất phục họ.

2vituongnguoinghe-t2.png

Nguyễn Cảnh Chân sinh năm 1355, quê làng Ngọc Sơn. Ông đỗ Tiến sĩ khoa Thái học sinh năm 1384 dưới triều Trần Phế Đế, sau đó được đưa vào Mật viện triều đình nhà Trần, nơi bàn định những việc cơ yếu của quốc gia. Từ một trí thức khoa bảng, ông trở thành một nhà quân sự có tầm nhìn, từng giữ chức tham mưu quân sự thuộc Thiềm Mật viện, rồi làm An phủ sứ Hóa Châu, Thăng Hoa.

Đặng Tất sinh năm 1357, quê làng Tả Thiên Lộc. Ông thi đậu Thái học sinh thời nhà Trần và được bổ làm Tri phủ Hóa Châu. Theo gia phả, hai họ nhà Đặng và Nguyễn có mối thâm giao từ trước, nên từ đó Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân càng thân thiết và có uy tín lớn trong vùng.

Khi nhà Hồ sụp đổ năm 1407, Đại Việt rơi vào ách đô hộ tàn bạo của giặc Minh. Tháng 11 năm ấy, Trần Ngỗi xưng đế ở Mô Độ, tức Giản Định Đế, lập ra nhà Hậu Trần. Ban đầu lực lượng còn yếu, bị quân Minh đánh bại phải chạy vào Nghệ An. Nhưng khi Nguyễn Cảnh Chân, Đặng Tất và các tướng lĩnh yêu nước kéo đến hội quân, thế Hậu Trần bắt đầu mạnh lên rõ rệt.

Đền thờ hai vị tướng Nguyễn Cảnh Chân Nguyễn Cảnh Dị tại huyện Thanh Chương, in trong sách An Tĩnh Cổ Lục
Đền thờ hai vị tướng Nguyễn Cảnh Chân Nguyễn Cảnh Dị tại huyện Thanh Chương, in trong sách An Tĩnh Cổ Lục. Ảnh: Hippolyte Le Breton

Giản Định Đế phong Đặng Tất làm Quốc công, Nguyễn Cảnh Chân làm Đồng tri khu mật viện sự, tham mưu quân sự. Từ đó, Đặng Tất thường trực tiếp cầm quân ngoài trận; Nguyễn Cảnh Chân giữ vai trò mưu lược, bàn định sách lược quân cơ. Một người là cánh tay chiến trận, một người là bộ óc chiến lược. Chính sự kết hợp ấy đã làm nên sức bật lớn nhất của Hậu Trần trong những năm đầu kháng Minh.

Đỉnh cao là trận Bô Cô cuối năm 1408. Quân Hậu Trần huy động lực lượng từ Thanh Hóa đến Thuận Hóa, tiến ra vùng Trường Yên, đánh phá nhiều vị trí quan trọng, uy hiếp ngoại vi Đông Quan. Nhà Minh phải sai Mộc Thạnh, Lưu Tuấn đem quân từ Bắc Kinh sang cứu viện.

Ngày 30 tháng 12 năm 1408, quân Hậu Trần đánh lớn ở bến Bô Cô, thuộc vùng Nam Định - Ninh Bình ngày nay, giành thắng lợi vang dội. Nhiều tướng cấp cao của nhà Minh bị quân ta giết chết, Mộc Thạnh phải dẫn tàn quân chạy vào thành Cổ Lộng.

Trận Bô Cô là một ánh chớp rực rỡ trong buổi đầu chống Minh. Nó chứng minh quân Minh không phải không thể đánh bại, đồng thời khơi lại niềm tin rằng Đại Việt tuy mất nước, nhưng chưa mất người trung nghĩa.

Nhìn từ ghi chép của Việt kiệu thư, chiến thắng Bô Cô càng có ý nghĩa đặc biệt. Những người mà nhà Minh từng muốn bắt về Bắc Kinh, rốt cuộc lại ở lại trong nước, cầm quân đánh cho quân Minh đại bại. Đó là câu trả lời đanh thép nhất của Nguyễn Cảnh Chân và Đặng Tất trước mưu đồ của nhà Minh muốn triệt hạ nhân tài Đại Việt.

2vituongnguoinghe-t3.png

Sau Bô Cô, Giản Định Đế muốn thừa cơ đánh ngay Đông Quan. Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân chủ trương đánh nốt số quân Minh còn lại, củng cố thế trận rồi mới tiến. Nếu nhìn bằng con mắt quân sự, đó là một lựa chọn thận trọng. Đông Quan là trung tâm đô hộ, thành trì kiên cố; nếu tiến quá gấp khi hậu phương chưa vững, lương thảo chưa đủ, các thành chưa bị cô lập, thắng lợi có thể biến thành mạo hiểm.

Nhưng chính sự khác biệt về sách lược ấy đã gieo mầm nghi kỵ. Năm 1409, khi Giản Định Đế đóng ở Hoàng Giang, nội nhân Nguyễn Quỹ và học sinh Nguyễn Mộng Trang mật tâu rằng: Nguyễn Cảnh Chân và Đặng Tất chuyên quyền bổ quan, cách chức. Giản Định Đế nghe lời gièm pha, cho gọi hai người đến rồi giết hại.

Tượng cha con Quốc công Đặng Tất tại tỉnh Hà Tĩnh
Tượng cha con Quốc công Đặng Tất - Đặng Dung tại tỉnh Hà Tĩnh.

Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Vua cho gọi hai người đến, bóp cổ giết Tất. Chân chạy lên bờ, lực sĩ đuổi theo chém chết.” Đó là một trong những bi kịch đau xót nhất của nhà Hậu Trần. Hai người từng bị nhà Minh truy tìm để đem về Bắc Kinh, từng là niềm hy vọng lớn của cuộc kháng chiến, lại không chết dưới tay giặc mà chết vì sự nghi kỵ của chính vị vua mà mình dốc lòng phò tá.

Sử thần Ngô Sĩ Liên đã bình rất nặng. Ông cho rằng, Giản Định Đế có được cha con Đặng Tất tài làm tướng, cha con Cảnh Chân giỏi mưu lược, đủ để lập công khôi phục, dựng nghiệp trung hưng. Thế mà chỉ vì nghe lời gièm pha của bọn hoạn quan, nhà vua một lúc giết hại hai bề tôi phò tá, thì làm sao nên việc được.

Cái chết của Nguyễn Cảnh Chân và Đặng Tất không chỉ là mất mát cá nhân. Đó là cú đánh chí mạng vào cơ hội trung hưng của nhà Hậu Trần. Một triều đại đang cần người tài nhất lại tự tay chặt đi hai trụ cột lớn nhất của mình. Nếu nhà Minh muốn bắt họ để triệt tiêu kháng chiến, thì sự nghi kỵ trong nội bộ Hậu Trần đã làm thay điều mà kẻ thù mong muốn.

z8058156197391_dd5cc880abc70f3d4eb955122ddc9aea.jpg
2vituongnguoinghe-t4.png

Nhưng dòng trung nghĩa ấy không tắt. Sau cái chết oan khuất của Nguyễn Cảnh Chân và Đặng Tất, hai người con của họ là Nguyễn Cảnh Dị và Đặng Dung tiếp tục đứng lên. Họ đem quân rước Trần Quý Khoáng lên ngôi, tức Trùng Quang Đế, mở ra chặng cuối cùng của nhà Hậu Trần. Đại Việt sử ký toàn thư chép:

“Tháng 3, ngày 17, vua lên ngôi ở Chi La, đổi niên hiệu là Trùng Quang, lấy Nguyễn Súy là Thái phó, Nguyễn Cảnh Dị làm Thái bảo, Đặng Dung làm Đồng bình chương sự, Nguyễn Chương làm Tư mã. Giản Định Đế giữ thành Ngự Thiên chống nhau với quân Minh. Bọn Súy hội đánh úp bắt được”.

Phố Nguyễn Cảnh Chân tại Thủ đô Hà Nội.
Phố Nguyễn Cảnh Chân tại Thủ đô Hà Nội.

Nguyễn Cảnh Dị được phong Thái bảo, Đặng Dung làm Đồng bình chương sự. Điều đó cho thấy họ không chỉ là những người con mang nặng mối thù cha, mà đã trở thành rường cột thực sự của triều Trùng Quang. Cha bị giết oan, con vẫn không bỏ nghĩa nước. Đó là điều làm nên vẻ đẹp bi tráng của hai dòng họ Nguyễn Cảnh và họ Đặng trong lịch sử dân tộc giai đoạn kháng chiến chống Minh xâm lược.

Năm 1410, Trùng Quang Đế đem quân cùng Nguyễn Cảnh Dị tiến đến bến La, Hạ Hồng, đánh phá quân Minh, rồi tiến đến Bình Than, đốt gần hết thuyền trại giặc. Tin thắng trận lan ra, hào kiệt nhiều nơi hưởng ứng. Trong thế lực mỏng, những trận đánh ấy không chỉ có giá trị quân sự, mà còn giữ cho ngọn cờ Hậu Trần chưa tắt. Đến năm 1413, khi tình thế đã nghiêng hẳn về phía quân Minh, Nguyễn Cảnh Dị và Đặng Dung vẫn tiếp tục chiến đấu. Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại đoạn cuối đầy dữ dội:

“Tháng 11, bọn Nguyễn Cảnh Dị và Đặng Dung bị Trương Phụ nhà Minh bắt sống. Cảnh Dị mắng ngay vào mặt Phụ: "Tao định giết mày, lại bị mày bắt", chửi Phụ luôn miệng. Phụ giận lắm, giết Dị rồi lấy gan ăn. Vua chạy sang Lão Qua. Phụ sai người lùng bắt được, đưa đến cửa quân. Người Thuận Hóa đều hàng. Thế là nhà Trần mất”.

Đường Nguyễn Cảnh Chân và Đặng Tất tại phường Thành Vinh tỉnh Nghệ An
Đường Nguyễn Cảnh Chân và Đặng Tất tại phường Thành Vinh tỉnh Nghệ An.

Cái chết của Nguyễn Cảnh Dị thảm khốc nhưng lẫm liệt. Còn Đặng Dung, trong ký ức lịch sử, là người anh hùng gắn với khí phách tận trung, với nỗi đau thời cuộc và tinh thần không khuất phục trước quân Minh. Hai người con ấy đã nối đúng chí cha: Cha chống Minh, con tiếp tục chống Minh; cha ngã xuống vì vận nước, con lại đứng lên vì vận nước.

2vituongnguoinghe-t5.png

Sau khi kháng chiến Lam Sơn toàn thắng, năm 1428, Vua Lê Thái Tổ truy phong cho Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân 8 chữ vàng: “Tiết liệt cương trung – Trung thần hiếu tử”. Đó không chỉ là sự tưởng thưởng cho hai người đã khuất, mà còn là sự phục hồi công lý lịch sử đối với những người từng giữ lửa kháng Minh trong buổi đầu mất nước.

Trường THPT Nguyễn Cảnh Chân tại huyện Thanh Chương (cũ) tỉnh Nghệ An
Trường THPT Nguyễn Cảnh Chân tại xã Đại Đồng, tỉnh Nghệ An.

Nhìn lại từ đoạn chép trong Việt kiệu thư, câu chuyện Nguyễn Cảnh Chân và Đặng Tất càng trở nên đặc biệt. Nhà Minh đã từng muốn đưa họ về Bắc Kinh dưới danh nghĩa “có tài có đức”. Nhưng họ đã không đi theo con đường ấy. Họ ở lại Đại Việt, phò Hậu Trần, cầm quân đánh giặc, lập nên chiến thắng Bô Cô oanh liệt. Sau họ, 2 người con Nguyễn Cảnh Dị và Đặng Dung lại tiếp tục nối chí cha, giữ ngọn lửa kháng chiến đến những ngày cuối cùng.

Nhà Minh có thể chiếm thành trì, có thể dựng bộ máy đô hộ, có thể ra chiếu chỉ truy lùng nhân tài Đại Việt bắt về Bắc Kinh giam lỏng. Nhưng có một điều chúng không thể bắt được, đó chính khí tiết của những người biết đặt Tổ quốc lên trên sinh mạng mình, mà 2 vị anh hùng Nguyễn Cảnh Chân và Đặng Tất là minh chứng rõ ràng nhất.

Bốn vị anh hùng: Nguyễn Cảnh Chân - Nguyễn Cảnh Dị, Đặng Tất - Đặng Dung không cứu được nhà Trần khỏi mất, nhưng đã cứu lấy danh dự của một thời. Không giữ được ngai vàng, nhưng giữ được khí tiết Đại Việt trước quân giặc Minh xâm lược.

 Một góc nông thôn mới xã Xuân Lâm.
Một góc xã Xuân Lâm. Ảnh: Thành Trung
0 0 0
Hai vị tướng người Nghệ trong sử sách Trung Hoa
Google News
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO