eMagazine

Hồ Chí Minh - Nhà cách mạng vĩ đại, danh nhân văn hóa kiệt xuất

PGS, TS Nguyễn Thế Kỷ 16/08/2026 16:51

Hồ Chí Minh - Lãnh tụ thiên tài của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa kiệt xuất của Việt Nam và thế giới. Ở Người, có sự hội tụ, kết hợp và phát huy đến mức cao nhất, hoàn mỹ nhất tinh hoa văn hóa dân tộc và thời đại, phương Đông và phương Tây, cổ và kim, trí dũng và nhân văn, vĩ đại và giản dị, khiêm nhường.

hochiminh_cover.png

PGS, TS Nguyễn Thế Kỷ [1]
*********

Hồ Chí Minh - Lãnh tụ thiên tài của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa kiệt xuất của Việt Nam và thế giới. Ở Người, có sự hội tụ, kết hợp và phát huy đến mức cao nhất, hoàn mỹ nhất tinh hoa văn hóa dân tộc và thời đại, phương Đông và phương Tây, cổ và kim, trí dũng và nhân văn, vĩ đại và giản dị, khiêm nhường. Người là nguồn cảm hứng bất tận cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, xây dựng một xã hội dân chủ, tự do, ấm no, hạnh phúc của Việt Nam và thế giới.

title1.png

Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo yêu nước, gắn bó mật thiết với nhân dân lao động. Quê hương xứ Nghệ của Người, suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, luôn là phên dậu, là “thành đồng ao nóng của nước và là then khóa của các triều đại” [2].

Thuở nhỏ, Nguyễn Sinh Cung được học chữ Hán với các thầy giáo Hoàng Phan Quỳnh, Vương Thúc Quý, Trần Thân. Các thầy đều là những người yêu nước, thương dân, đề cao lễ nghĩa. Những nhà nho mà cha Người - ông Nguyễn Sinh Sắc kết giao là Phan Văn San (Phan Bội Châu), Vương Thúc Quý, Trần Văn Lương… Trong lúc đàm đạo văn chương, thế sự, họ thường đọc cho nhau nghe hai câu thơ của Viên Mai - nhà thơ, nhà lý luận phê bình văn nghệ thời nhà Thanh ở Trung Quốc: “Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch/ Lập thân tối hạ thị văn chương” (Mỗi bữa không quên ghi sử sách/ Lập thân hèn nhất ấy văn chương).

bna_chuyen-ve-goc-mit-co-thu-o-que-ngoai-bac-ho-hinh-anh-1.jpg
Di tích quê ngoại Bác Hồ ở làng Hoàng Trù, xã Kim Liên - nơi sinh ra và gắn liền với tuổi thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh tư liệu

Lớn dần lên, càng đi vào cuộc sống của người dân quê mình, nước mình, Nguyễn Sinh Cung càng thấm thía thân phận cùng khổ của người dân mất nước. Đó là nạn thuế khoá nặng nề cùng với việc nhân dân bị bắt làm phu xây dựng đường sá, đồn điền, cầu cống, nhất là nỗi khổ đau của phu làm đường từ Cửa Rào Nghệ An đi Xiêng Khoảng (Lào) nơi rừng thiêng nước độc. Những cuộc ra đi dường như không có ngày về, lầm than, ai oán.

Nguyễn Sinh Cung và anh trai Nguyễn Sinh Khiêm thường được cha cho đi theo đến làng Đông Thái, quê hương của Phan Đình Phùng, di tích thành Lục Niên của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, miếu thờ La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, xuống Hưng Nguyên quê hương của nhà cải cách Nguyễn Trường Tộ, ra Nghi Lộc, Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Yên Thành ...

Khoảng tháng 9/1905, Nguyễn Sinh Cung trong tên gọi mới là Nguyễn Tất Thành và anh trai Nguyễn Tất Đạt được cha xin cho theo học lớp dự bị (préparatoire) Trường tiểu học Pháp - Việt (bản xứ) ở thành phố Vinh. Chính tại ngôi trường này, Nguyễn Tất Thành lần đầu tiên được tiếp xúc với khẩu hiệu Tự do - Bình đẳng - Bác ái. Ở Huế 10 năm giữa hai cuộc đi về quê Nghệ giúp Nguyễn Tất Thành mở rộng thêm sự hiểu biết, tầm nhìn, tầm suy nghĩ. Anh nhận thấy ở đâu người dân cũng lam lũ đói khổ, anh đã sớm có chí đánh đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào.

Trích đoạn bức tranh Nguyễn Tất Thành tham gia chống thuế. Ảnh tư liệu: Trường Quốc Học Huế
Bức tranh Nguyễn Tất Thành tham gia chống thuế. Ảnh tư liệu: Trường Quốc Học Huế

Cha anh, ông Nguyễn Sinh Sắc, sau nhiều năm lần lữa việc ra làm quan, cuối tháng 5/1906, trong tên mới là Nguyễn Sinh Huy, phải vào kinh đô để nhậm chức. Nguyễn Tất Thành và anh trai cùng đi theo cha. Vào Huế, Nguyễn Tất Thành cùng với anh trai được cha cho đi học Trường tiểu học Pháp - Việt tỉnh Thừa Thiên, lớp dự bị (cours préparatoire, tháng 9/1906); lớp sơ đẳng (cours élémentaire, tháng 9/1907).

Ở Huế, lần này xảy ra một sự kiện đáng ghi nhớ trong cuộc đời của Nguyễn Tất Thành. Tháng 4/1908, Nguyễn Tất Thành tham gia cuộc biểu tình chống thuế của nông dân tỉnh Thừa Thiên, khởi đầu cho cuộc tranh đấu suốt đời Người vì quyền lợi của nhân dân lao động. Sau sự việc này, Nguyễn Tất Thành bị chính quyền thực dân và nhà trường để mắt theo dõi. Ông Nguyễn Sinh Huy cũng bị chúng khiển trách.

Tuy nhiên, tháng 8/1908, Nguyễn Tất Thành vẫn được ông Hiệu trưởng Quốc học Huế Sukê (Chouquet) tiếp nhận vào học tại trường. Tháng 9/1908, Nguyễn Tất Thành vào học lớp trung đẳng (lớp nhì) (cours moyen) tại ngôi trường này.

Trường Dục Thanh, nơi thầy giáo Nguyễn Tất Thành dạy học năm 1910.jpg
Trường Dục Thanh, nơi thầy giáo Nguyễn Tất Thành dạy học năm 1910.

Trong thời gian học tại Trường Quốc học Huế, Nguyễn Tất Thành được tiếp xúc nhiều với sách báo Pháp. Các thầy giáo của Trường Quốc học Huế có người Pháp và cả người Việt Nam, có những người nặng lòng yêu nước như thầy Hoàng Thông, thầy Lê Văn Miến.

Khoảng tháng 6/1909, Nguyễn Tất Thành rời Trường Quốc học Huế theo cha vào Bình Định, khi ông Nguyễn Sinh Huy được bổ nhiệm chức Tri huyện Bình Khê. Trong thời gian ở đây, Nguyễn Tất Thành được cha cho đi thăm di tích lịch sử vùng Tây Sơn, thăm mộ cụ Đào Tấn và nhiều bậc thức giả khác.

Cuối năm 1909, Nguyễn Tất Thành được cha gửi học tiếp chương trình lớp cao đẳng (lớp nhất - cours supérieur), tại Trường tiểu học Pháp - Việt Quy Nhơn. Cha anh biết rõ khả năng và chí hướng người con trai thứ của mình nên đã tạo điều kiện cho con được tiếp tục học lên.

Công nhân Việt Nam lao động tại các hầm mỏ của thực dân Pháp. Ảnh tư liệu BTLSQG
Công nhân Việt Nam lao động tại các hầm mỏ của thực dân Pháp. Ảnh tư liệu BTLSQG

Tháng 6/1910, Nguyễn Tất Thành hoàn thành chương trình tiểu học. Sau khi nghe tin cha bị cách chức Tri huyện Bình Khê, bị triệu hồi về Kinh và giáng bốn cấp, anh không theo cha trở lại Huế mà quyết định đi tiếp xuống phía Nam. Trên đường từ Quy Nhơn vào Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành dừng chân ở Phan Thiết. Ở đây, anh xin làm trợ giáo (moniteur), được giao dạy một số môn học và phụ trách các hoạt động ngoại khoá của Trường Dục Thanh, một trường tư thục do các ông Nguyễn Trọng Lội và Nguyễn Quý Anh (hai con trai chí sĩ yêu nước Nguyễn Thông) thành lập năm 1907. Ngoài giờ lên lớp, Nguyễn Tất Thành tìm đến thư viện của trường để đọc những cuốn sách quý mà anh yêu thích. Anh được tiếp cận với những tư tưởng tiến bộ, nhân văn của các nhà khai sáng Pháp như Rútxô (Rousseau), Vônte (Voltair), Môngtétxkiơ (Montesquieu).

Ngày 5/6/1911, từ Bến cảng Nhà Rồng, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã lên con tàu Amiral Latouche Tréville, bắt đầu cuộc hành trình tìm con đường giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước.
Ngày 5/6/1911, từ Bến cảng Nhà Rồng, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã lên con tàu Amiral Latouche Tréville, bắt đầu cuộc hành trình tìm con đường giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước.

Tháng 2/1911, Nguyễn Tất Thành rời Phan Thiết vào Sài Gòn. Anh ở tạm tại trụ sở các chi nhánh của Liên Thành công ty đặt tại thành phố rộng lớn hướng ra biển. Anh lặng lẽ đi vào các xóm thợ nghèo, làm quen với những thanh niên lao động cùng lứa tuổi. Ở đâu anh cũng thấy nhân dân lao động bị đọa đày, khổ nhục. Nguyễn Tất Thành cũng lân la đến những cửa hàng ở gần cảng Sài Gòn, nơi chuyên nhận giặt là quần áo cho các thủy thủ trên tàu Pháp, để tìm cách xin việc làm trên tàu, thực hiện ước mơ có những chuyến đi xa. Ngày 5/6/1911, tại bến cảng Sài Gòn, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành trong tên mới Văn Ba xuống con tàu biển mang tên Đô đốc Latouche Tresville sang phương Tây, như sau này Người kể lại “Tôi muốn đi ra nước ngoài xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào ta”[3].

title2.png

Ở Pháp, Văn Ba vừa lao động kiếm sống, vừa tìm hiểu đời sống xã hội Pháp, mấy năm sau, anh tham gia Đảng xã hội Pháp năm 1918. Năm 1919, anh lấy tên Nguyễn Ái Quốc cùng Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường gửi “Yêu sách của nhân dân An Nam” đến Hội nghị Véc-xây (1919). Tháng 7 năm 1920, anh đọc sơ thảo lần thứ nhất Luận cương của V.I. Lê nin về các vấn đề dân tộc và các vấn đề thuộc địa đăng trên báo L'Humanité (cơ quan của Đảng Xã hội Pháp). Cuối tháng 12 năm 1920, Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội lần thứ XVIII của Đảng Xã hội Pháp tại Tours với tư cách là đại biểu Đông Dương, trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp.

Khách sạn Carlton ở London (Anh), nơi người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành làm việc trong thời gian sống ở nước Anh năm 1914. Ảnh tư liệu
Khách sạn Carlton ở London (Anh), nơi người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành làm việc trong thời gian sống ở nước Anh năm 1914. Ảnh tư liệu

Năm 1921, Nguyễn Ái Quốc cùng một số nhà yêu nước của các thuộc địa Pháp lập ra Hội Liên hiệp Thuộc địa (Union intercoloniale - Association des indigènes de toutes les colonies). Năm 1922, anh cùng các đồng chí của mình lập báo Le Paria (Người cùng khổ). Ngay bài viết cho số đầu tiên, Báo khẳng định sứ mệnh của mình là “giải phóng con người”. Le Paria ra được 38 số, mỗi số bán được khoảng 1.000 bản tới 5.000 bản - một con số khá ấn tượng lúc bấy giờ. Ngoài ra, Nguyễn Ái Quốc còn viết bài cho các tờ báo khác. Tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” (Le procès de la colonisation française) do Người viết từ 1921- 1925 được xuất bản năm 1925 ở Paris, tố cáo chính sách thực dân tàn bạo của Pháp và đề cập đến phong trào đấu tranh của các dân tộc thuộc địa.

Ban an che do thuc dan phap
Tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” (Le procès de la colonisation française) do Người viết từ 1921- 1925 được xuất bản năm 1925 ở Paris, tố cáo chính sách thực dân tàn bạo của Pháp và đề cập đến phong trào đấu tranh của các dân tộc thuộc địa.

Hơn 10 năm ở trời Tây, vừa vất vả lao động kiếm sống, vừa đau đáu tìm kiếm con đường cứu nước, cứu dân, Nguyễn Ái Quốc nhận rõ một sự thật đầy đau xót, căm hận: chính chủ nghĩa tư bản, bè lũ đế quốc thực dân là những kẻ gây ra mọi áp bức, bóc lột, đau khổ cho công nhân, nông dân và các tầng lớp khác ở các thuộc địa và ở ngay cả chính quốc. Sau này, Người kể lại: “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải là chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lê-nin, tin theo Quốc tế thứ Ba. Qua hoạt động yêu nước, tìm đường đi cho dân tộc, Người hiểu rõ, chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ. Sự gặp gỡ, tiếp xúc lịch sử ấy hoàn toàn không phải là ngẫu nhiên hay may mắn, đó là một sự dấn thân, sự chủ động chọn đường, một tất yếu khách quan mang tính khoa học và cách mạng.

Báo Le Paria (Người cùng khổ), Thân Ái, Thanh Niên do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập. Ảnh: Internet
Báo Le Paria (Người cùng khổ), Thân Ái, Thanh Niên do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập. Ảnh: Internet

Trước chuyến đi của Nguyễn Tất Thành - Văn Ba năm 1911, ông Phan Bội Châu, một người Nam Đàn là bạn đèn sách, tâm giao với thân phụ của Người chọn con đường đi về phương Đông, nhưng nước Nhật “đồng văn”, “đồng chủng”, “đồng cừu” đang xâm lược Trung Quốc, Triều Tiên, ra lệnh trục xuất chính Phan và các du học sinh Việt Nam yêu nước. Cải cách của Khang Hữu Vy, Lương Khải Siêu ở Trung Quốc thất bại, cho thấy Trung Quốc không thể đi theo con đường Duy Tân của Nhật Bản. Cách mạng Tân Hợi (1911) của Tôn Văn tuy lật đổ được ngai vàng đế chế, nhưng đã không cởi bỏ được quyền chiếm hữu ruộng đất và ách bóc lột của địa chủ phong kiến, ách nô dịch của đế quốc tư bản nước ngoài. Nhiều trí thức Việt Nam đương thời cũng sang Pháp, có người chỉ lo học hành, kiếm sống, làm giàu; có người vừa học chữ, vừa mong muốn tìm đường cứu nước, cứu dân. Phó bảng Phan Chu Trinh và Luật sư, tiến sĩ Phan Văn Trường tiêu biểu cho nhóm thứ hai. Tuy nhiên, sống và hoạt động ở Pháp nhiều năm, từng tiếp xúc với các lực lượng cánh tả và tiến bộ Pháp, vậy mà các ông vẫn không tìm thấy con đường đúng đắn giải phóng dân tộc mình, giải phóng nhân dân mình; không đến được với chủ nghĩa Mác - Lê nin như Nguyễn Ái Quốc.

Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tham dự và phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XVIII đảng Xã hội Pháp ở thành phố Tours, ngày 26/12/1920. Ảnh: Tư liệu TTXVN
Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tham dự và phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XVIII đảng Xã hội Pháp ở thành phố Tours, ngày 26/12/1920. Ảnh: Tư liệu TTXVN

Theo báo cáo của Trung ương Đảng Xã hội Pháp thì năm 1913 đã có 7 người Việt Nam vào Đảng Xã hội Pháp, năm 1919 có 80 người Việt Nam tham gia Đảng này, nhưng đến năm 1920 chỉ còn 20 người, duy chỉ có Nguyễn Ái Quốc (vào Đảng Xã hội Pháp năm 1918) trở thành người cộng sản vào cuối năm 1920. Chính Phan Châu Trinh, trong một bức thư đề ngày 18 tháng 2 năm 1922 gửi từ Mác-xây cho Nguyễn Ái Quốc đang ở Pa-ri, đã viết: “Thân tôi tựa như chim lồng, cá chậu… Cảnh tôi như hoa sắp tàn, hiềm vì quốc phá gia vong, mà hơi tàn cũng phải gào cho hả, may ra có tỉnh giấc hồn mê”. Ông Phan ví Nguyễn Ái Quốc “như cây đương lộc, nghị lực có thừa, dày công học hành, lý thuyết tinh thông… không bao lâu nữa cái chủ nghĩa anh tôn thờ sẽ thâm căn cố đế trong đám dân tình, chí sỹ nước ta”.

Ngày 27/6/1923, Nguyễn Ái Quốc trong tay với giấy thông hành mang tên người thợ ảnh “Chen Vang” rời cảng Hamburg trên con tàu mang tên nhà cách mạng Đức Karl Liebknecht. Ngày 30/6/1923, Người đến thành phố Petrograd (nay là Saint-Petersburg) - cái nôi của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại. Người kể: “Đối với tôi, câu trả lời đã rõ ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập…”[4]. Trên đất nước của Lê-nin, Người dày công học tập, nghiên cứu mong có ngày trở về Tổ quốc để giải phóng nước mình, mang lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân mình. Sau này, Người kể lại: “Cách mạng Tháng Mười vĩ đại có một sức lôi cuốn kỳ diệu vô cùng. Từ khi nghe tin cách mạng xã hội chủ nghĩa thành công, Bác liền có ý định đi Nga, mặc dù lúc đó chưa hiểu hết ý nghĩa cực kỳ to lớn của cuộc cách mạng ấy. Một hôm, Đảng Cộng sản Pháp gọi Bác đến và bảo “Đồng chí sẽ được đi dự Đại hội lần thứ V của Quốc tế Cộng sản với danh nghĩa là đại biểu của nhân dân các nước thuộc địa”.

Đồng chí Nguyễn Ái Quốc (người đầu tiên bên trái hàng ngồi) chụp ảnh với một số đại biểu tham dự Đại hội lần thứ V, Quốc tế cộng sản của tại Matxcơva, năm 1924.
Đồng chí Nguyễn Ái Quốc (người đầu tiên bên trái hàng ngồi) chụp ảnh với một số đại biểu tham dự Đại hội lần thứ V, Quốc tế cộng sản của tại Matxcơva, năm 1924.

Nhà thơ Liên Xô Ô-xíp Ê-mi-li-ê-vích Man-đen-xtam (Osip Emilyevich Mandelstam) đã gặp Nguyễn Ái Quốc vào thời điểm đáng nhớ đó và có bài viết về Người đăng trên Tạp chí “Ngọn lửa nhỏ”: “Nguyễn Ái Quốc - người An Nam duy nhất ở Moskva, người đại diện của chủng tộc Mã Lai cổ xưa. Anh ấy trông như một cậu thiếu niên gầy gò, linh hoạt, mặc chiếc áo dệt len. Anh sử dụng tiếng Pháp, ngôn ngữ của kẻ áp bức, nhưng phát âm không được rõ ràng, giọng buồn giống như tiếng chuông khe khẽ của tiếng mẹ đẻ. Nguyễn Ái Quốc có vẻ khó chịu khi nói đến từ “văn minh”. Anh ấy hầu như đã đi khắp các nước thuộc địa, đến cả Bắc Phi và Trung Phi và tận mắt thấy đủ điều…”…. “Từ Nguyễn Ái Quốc toả ra một nền văn hoá, không phải là văn hoá châu Âu mà có lẽ là nền văn hóa của tương lai”… “Dân tộc Việt Nam là một dân tộc giản dị và lịch sự. Qua cử chỉ cao thượng, tiếng nói trầm lắng của Nguyễn Ái Quốc, tôi thấy được ngày mai, thấy được viễn cảnh trời yên bể lặng của tình hữu ái toàn thế giới bao la như đại dương”.

Nguyễn Ái Quốc (thứ 2 bên phải) tham gia mít tinh đoàn kết quốc tế tại Liên Xô năm 1923 (Nguồn qdnd.vn).
Nguyễn Ái Quốc (thứ 2 bên phải) tham gia mít tinh đoàn kết quốc tế tại Liên Xô năm 1923. Nguồn: qdnd.vn

Trong suốt cả cuộc đời mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự tôn kính đối với vị lãnh tụ giai cấp vô sản thế giới. Trong một lần trả lời phỏng vấn, Người cho rằng, trong mắt nhân dân các nước phương Đông, V.I. Lênin không chỉ là vị lãnh tụ: “Lênin là người có sức thu hút rất lớn… Đối với những người từng phải trải qua nhiều đau khổ và sự nhạo báng như chúng tôi, thì Lênin là hiện thân của lòng bác ái chân chính”.

Tháng 6 năm 1923, Nguyễn Ái Quốc đến Moskva học tập tại Trường Đại học Lao động Cộng sản Phương Đông của Quốc tế Cộng sản. Tại Đại hội lần thứ 5 Quốc tế Cộng sản Người được cử làm ủy viên Ban Phương Đông, phụ trách Cục Phương Nam.

Nếu như Marx bàn nhiều về cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản, Lenin bàn nhiều về cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, thì Nguyễn Ái Quốc dành sự quan tâm đặc biệt đến cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân. Trong Tham luận trình bày tại Đại hội lần thứ năm của Quốc tế Cộng sản (1924), Nguyễn Ái Quốc chỉ ra sự to lớn của hệ thống thuộc địa: "Năm 1876: 1/4 tỷ người dân thuộc địa thì năm 1914: 1/2 tỷ dân thuộc địa. Đến đầu những năm 20, diện tích các nước thuộc địa gấp 5 diện tích các nước chính quốc, còn dân số chính quốc chưa bằng 3/5 số dân các nước thuộc địa. Số dân thuộc địa Anh đông gấp hơn 8,5 số dân nước Anh còn đất đai rộng gấp 252 lần của nước Anh...".

Nguyễn Ái Quốc (thứ 2 từ trái sang phải) với một số chiến sĩ cách mạng châu Phi trong thời gian hoạt động ở Liên Xô. Ảnh tư liệu
Nguyễn Ái Quốc (thứ 2 từ trái sang phải) với một số chiến sĩ cách mạng châu Phi trong thời gian hoạt động ở Liên Xô. Ảnh tư liệu

Ngày 23 tháng 6 năm 1924, phát biểu tại phiên họp thứ 8 Đại hội 5, Nguyễn Ái Quốc nói: "Tôi đến đây không ngừng lưu ý Quốc tế Cộng sản đến một sự thật là: thuộc địa vẫn đang tồn tại, và vạch ra để Quốc tế Cộng sản thấy rằng: cách mạng, ngoài vấn đề tương lai của các thuộc địa còn có cả nguy cơ của các thuộc địa. Song, tôi thấy rằng hình như các đồng chí chưa hoàn toàn thấm nhuần tư tưởng rằng vận mệnh của giai cấp vô sản thế giới và đặc biệt là vận mệnh của giai cấp vô sản ở các nước đi xâm lược thuộc địa gắn chặt với vận mệnh của giai cấp bị áp bức ở các thuộc địa. Vì vậy, tôi sẽ tận dụng mọi cơ hội có được, gợi ra những vấn đề và nếu cần, tôi sẽ thức tỉnh các đồng chí về vấn đề thuộc địa".

Trong thời gian ở Liên Xô, Nguyễn Ái Quốc tranh thủ viết bài cho các báo Nhân đạo (L’Humanité), Đời sống công nhân (La Vie Ouvrière), Sự thật (Pravda), Người cùng khổ (Le Paria), Thư tín quốc tế (Inprékor), Tạp chí Cộng sản ... Các bài báo tập trung nói về các vấn đề liên quan đến giai cấp công nhân, đến cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân ở các thuộc địa, mối quan hệ giữa cách mạng vô sản ở chính quốc và cách mạng thuộc địa.

Ngày 11 tháng 11 nǎm 1924, Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô tới Quảng Châu, lấy tên là Lý Thụy, làm phiên dịch trong phái đoàn cố vấn của Chính phủ Liên Xô bên cạnh Chính phủ Trung Hoa Dân quốc.

Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giảng dạy tại lớp huấn luyện chính trị, đào tạo cán bộ cho cách mạng Việt Nam ở Quảng Châu (Trung Quốc). Ảnh chụp tranh vẽ của Họa sĩ Phi Hoanh
Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giảng dạy tại lớp huấn luyện chính trị, đào tạo cán bộ cho cách mạng Việt Nam ở Quảng Châu (Trung Quốc). Ảnh chụp tranh vẽ của Họa sĩ Phi Hoanh

Ở đây, Nguyễn Ái Quốc gặp mặt một số nhà cách mạng người Việt đang sống và hoạt động lưu vong trên đất Trung Quốc, đặc biệt là người đồng hương bậc trên Phan Bội Châu. Ông Phan đã chuyển cho Nguyễn Ái Quốc một bản danh sách của 14 người Việt Nam yêu nước, một số người trong đó là thành viên của Tâm Tâm xã - một tổ chức tiến bộ hoạt động từ 1923 với những tên tuổi như Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, Nguyễn Giản Thanh, Đặng Xuân Hồng, Trương Quốc Huy, Lê Cầu, Nguyễn Công Viễn; đến đầu năm 1924 có thêm Lê Hồng Phong và Phạm Hồng Thái.

Năm 1925, Nguyễn Ái Quốc (lúc này mang tên Vương) lựa chọn một số thành viên tích cực của Tâm Tâm xã, huấn luyện thêm và trên cơ sở đó, lập ra Cộng sản đoàn, rồi tiếp tục dựa trên Cộng sản đoàn mà thành lập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội (Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên) vào tháng 6. Hội này phái người về nước vận động và đưa thanh niên sang Quảng Châu đào tạo. Cho tới 1927, hội mở được 3 khoá gần 10 lớp huấn luyện, đào tạo 75 hội viên, mỗi khóa kéo dài 2-3 tháng. Nguyễn Ái Quốc đứng lớp, Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn phụ giảng. Việc làm quan trọng nhất của hội trong thời gian này là cử được người đi học tại Đại học Phương Đông (Liên Xô) và trường Quân chính Hoàng Phố của Quốc dân Đảng Trung Quốc. Trần Phú, Lê Hồng Phong, Bùi Công Trừng, Phùng Chí Kiên, Lê Thiết Hùng, Nguyễn Sơn,… là những người được đưa đi đào tạo tại một trong hai trung tâm trên.

Khách sạn Trung tâm Mátxcơva, nơi Nguyễn Ái Quốc ở trong thời gian dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V (7/1924); Bài “Lênin và các dân tộc thuộc địa” của Nguyễn Ái Quốc, đăng báo Sự Thật, Liên Xô (27/1/1924). Ảnh tư liệu
Khách sạn Trung tâm Mátxcơva, nơi Nguyễn Ái Quốc ở trong thời gian dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V (7/1924); Bài “Lênin và các dân tộc thuộc địa” của Nguyễn Ái Quốc, đăng báo Sự Thật, Liên Xô (27/1/1924). Ảnh tư liệu

Nguyễn Ái Quốc lập báo Thanh niên làm cơ quan phát ngôn của Hội, tới tháng 2 năm 1930, tờ báo này ra được 208 số. Cuốn “Đường Kách mệnh” tập hợp các bài giảng của Người, được Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông xuất bản năm 1927. Người cho rằng để cách mạng thành công, phải coi học trò, nhà buôn, điền chủ nhỏ đều là bầu bạn của cách mạng. Tư tưởng này của Người trong đầu thập niên 1930 đã vấp phải sự phê phán của một số người cộng sản Việt Nam khác. Ngoài ra, trong thập niên 1920, một trong những quan điểm của Người về cách mạng là: cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa có thể bùng nổ và giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc.

Cùng năm 1925, Người tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông, do Liêu Trọng Khải, một cộng sự thân tín của Tôn Dật Tiên, làm Hội trưởng và Người làm Bí thư.

Tháng 5 năm 1927, chính quyền Trung Hoa Dân Quốc đặt những người cộng sản ra ngoài vòng pháp luật, Người rời Quảng Châu đi Hồng Kông, rồi sang Moskva. Tháng 11 năm 1927, Người được cử đi Pháp, rồi từ đó đi dự hội nghị của Liên đoàn chống chiến tranh đế quốc từ ngày 9 tháng 12 đến ngày 12 tháng 12 năm 1927 tại Bruxelles, Bỉ. Sau đó, Người qua Ý.

Ngôi nhà nơi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc với tên gọi Thầu Chín sống, làm việc tại Nakhon Phanom (Thái Lan).
Ngôi nhà nơi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc với tên gọi Thầu Chín sống, làm việc tại Nakhon Phanom (Thái Lan).

Mùa thu 1928, Nguyễn Ái Quốc từ châu Âu đến Thái Lan, với bí danh Thầu Chín để tuyên truyền và huấn luyện cho Việt kiều, đón một số thanh thiếu niên từ trong nước sang Thái Lan hoạt động. Nguyễn Ái Quốc - Thầu Chín chủ trương tuyên truyền cho kiều bào và tổ chức họ vào những hội thân ái, tổ chức các buổi sinh hoạt văn hóa, xin Chính phủ Thái cho mở trường dành cho Việt kiều. Người đi nhiều nơi (chủ yếu là đi bộ), vận động kiều bào ở nơi này. Người cho in tờ báo Thân ái. Cuối năm 1929, Nguyễn Ái Quốc rời Thái Lan, theo ngả Singapore để sang Trung Quốc.

Ngày 3 tháng 2 năm 1930, tại Cửu Long, Hương Cảng, Trung Quốc, Người thống nhất ba tổ chức đảng cộng sản trong nước thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Các văn kiện quan trọng nhất (như Chính cương vắn tắt, Sách lược, Điều lệ vắn tắt của Đảng, Lời kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng) của hội nghị này đều do Người soạn thảo và được cho là thể hiện những quan điểm và tư tưởng khác với chủ trương khi đó của Quốc tế Cộng sản. Người khẳng định: “Trong toàn bộ chủ nghĩa Mác-Lênin thì vấn đề xây dựng đảng là một trong các vấn đề cơ bản, bao gồm những nguyên tắc tổ chức hết sức rõ ràng về tính chất của đảng, về sự tuyển lựa đảng viên, về việc xây dựng cơ sở và hệ thống, về nguyên tắc tập trung dân chủ, về “kỷ luật sắt” trong đảng, về mối quan hệ giữa đảng và quần chúng, về quy luật phê bình và tự phê bình”[5].

Từ ngày 6/1-7/2/1930, Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam họp ở Hong Kong (Trung Quốc) dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc thay mặt cho Quốc tế Cộng sản. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN phát)
Từ ngày 6/1-7/2/1930, Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam họp ở Hong Kong (Trung Quốc) dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc thay mặt cho Quốc tế Cộng sản. Ảnh: Tư liệu/TTXVN phát

Gần 15 năm sau, khi đã về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng, Người có chuyến đi đến Quảng Tây và bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam. Tập thơ “Nhật ký trong tù” được Người viết bằng chữ Hán gồm 133 bài theo thể Đường luật trong thời gian từ tháng 8 năm 1942 đến tháng 9 năm 1943. “Quảng Tây giải khắp mười ba huyện/ Mười tám nhà lao đã trải qua”…,.. “Thân thể ở trong lao/ Tinh thần ở ngoài lao/ Muốn nên sự nghiệp lớn/ Tinh thần càng phải cao”. Ngày cũng như đêm, Người luôn đau đáu “Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh”… nêu một tuyên ngôn có tính định hướng cho thơ nói riêng, văn học, nghệ thuật nói chung “Nay ở trong thơ nên có thép/ Nhà thơ cũng phải biết xung phong”. Người truyền sức mạnh, niềm tin, sự lạc quan cho những ai đang trong cảnh nguy nan, khốn khó "Đi đường mới biết gian lao/ Núi cao rồi lại núi cao trập trùng/ Núi cao lên đến tận cùng/ Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non".

Ngày 10 tháng 12 năm 1951, Người viết thư gửi các họa sĩ nhân dịp Triển lãm hội họa kháng chiến ở Việt Bắc. Trong thư, Người khẳng định: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”. Với những người làm báo, Bác Hồ là người sáng lập, người thầy của nền báo chí cách mạng Việt Nam. Người căn dặn các nhà báo: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”.

title3.png

Trong cuốn sách “Những mẩu chuyện về về cuộc đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch”, tác giả Trần Dân Tiên kể: “Có người hỏi Nguyễn Ái Quốc: Ông là người thể nào ? Người cộng sản hay người theo chủ nghĩa Tôn Dật Tiên ? Sau khi giải thích, Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Khổng Tử, Jê-su, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có những điểm chung đó sao ! Họ đều muốn mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội. Nếu hôm nay họ còn sống trên đời này, nếu họ họp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết”[6]

Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lòng nhân dân Ấn Độ
Tổng thống Rajendra Prasad và Thủ tướng Jawaharlal Nehru ra sân bay New Delhi đón Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm hữu nghị Ấn Độ từ ngày 5 - 13/2/1958. Ảnh: Tư liệu TTXVN

Tư tưởng đại đoàn kết, nhân ái, khoan dung, nhân văn ấy của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh làm rung động con tim nhiều quốc gia, dân tộc, giai tầng, tôn giáo. Những dòng tên thân yêu “Hồ Chí Minh”, “Bác Hồ” được quen gọi ở nhiều nước. Trong chuyến thăm hữu nghị Ấn Ðộ lần thứ hai, năm 1958, Bác Hồ được các nhà lãnh đạo và nhân dân Ấn Độ đón tiếp bằng sự hân hoan và kính trọng đặc biệt. Tại cuộc đồng diễn của hơn ba ngàn thiếu nhi Ấn Ðộ chào mừng vị Chủ tịch của Việt Nam, các em đồng thanh hô lớn: "Cha Hồ, cha Hồ !".

Sinh thời, Chủ tịch Cuba Phi-đen Cát-xtrô ca ngợi Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vinh quang đời đời thuộc về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tấm gương lớn nhất của người cách mạng vĩ đại ngày càng được khâm phục, ngưỡng mộ và luôn luôn được yêu mến không chỉ nhân dân Việt Nam mà còn ở các dân tộc khác trên thế giới”. Nhà thơ Cuba Phê-lich Pi-ta Rô-đờ-ri-ghết nhận định: “Trong tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người nông dân ở Việt Nam, ở An-gie-ri, ở Tuy-ni-di, ở Công-gô, người bị áp bức ở quần đảo Ăng-ti-dát hoặc ở “miền Nam già cỗi” của nước Mỹ, đều có một người nhiệt thành bênh vực mình”. Nhà thơ Cu-ba còn có nhiều bài thơ về Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiêu biểu là hai tác phẩm “Hồ Chí Minh, tên Người là cả một niềm thơ” và “Thủ đô Hà Nội nhớ Bác Hồ”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng thanh niên Kazacxtan trong vũ điệu dân tộc
Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng thanh niên Kazacxtan trong vũ điệu dân tộc, tháng 7/1959. Nguồn: Khu di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch

Nhiều chính khách, nhà văn, nhà báo, nhà nghiên cứu đến thăm Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Ba Đình, Hà Nội[7] đã cảm phục, dành những lời ca ngợi yêu kính, thân thương đối với Hồ Chí Minh. Ngài Tổng thống An-giê-ri Áp-đun A-zit Bô-ti-phờ-li-ka viết: “Chúng tôi tự hào và đánh giá cao sự khiêm nhường, giản dị, thanh cao của Hồ Chí Minh. Cuộc đời con người vĩ đại này sẽ còn sống mãi, bất diệt trong ký ức của dân tộc mình. Người còn là nguồn hy vọng và ngọn đuốc cho các dân tộc đang đấu tranh vì một thế giới hòa bình, công bằng, tự do, tiến bộ và thịnh vượng”. Ngài Gien-ni, Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Mỹ ca ngợi: “Tuy sống giản dị, nhưng Người đã để lại một tài sản vô giá cho con cháu, cho nhân dân Việt Nam anh hùng và cho nhân dân toàn thế giới đang tha thiết một cuộc sống tốt đẹp hơn: Chủ nghĩa xã hội”. Đại diện Đảng Cộng sản Úc ghi những dòng xúc động: “Như tất cả những nhà cách mạng vĩ đại chân chính, Hồ Chí Minh là xương, thịt của nhân dân. Người sống giản dị, khiêm tốn trong sự vĩ đại, một lòng một dạ cống hiến cho sự nghiệp cao cả: độc lập, tự do cho Việt Nam, con đường cách mạng cho công nhân và nhân dân bị áp bức lên thế giới”.

Ngài Xten-ly Ma-bi-đê-la lãnh đạo của Hội đồng Cách mạng Đại hội dân tộc Phi khi thăm Việt Nam, thăm nơi ở lúc sinh thời của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Một ngôi nhà đơn sơ, một chiếc giường giản dị. Người sống một cuộc sống vô cùng khiêm tốn trong lúc chính Người có thể sống như một ông vua. Người luôn xứng đáng là một tấm gương cho mọi thời đại cách mạng. Đó là một con người suốt đời hoạt động cho cuộc sống ngày càng tốt hơn, không chỉ cho nhân dân Việt Nam, mà cho người châu Á, châu Phi, châu Mỹ - Latinh và ở khắp những nơi còn có sự bất công”. Bà Ét giơ Pê-tra-xa, người Chi-lê, viết: "Nơi ở và làm việc của đồng chí Hồ Chí Minh quả là một bài học lớn đối với tất cả những người cách mạng trên thế giới. Cuộc sống đơn sơ và giản dị của Người chứng tỏ rằng Người đã vượt lên trên hết thảy mọi ham muốn vật chất. Hồ Chí Minh đã cống hiến trọn đời cho dân tộc. Chính vì vậy, với dân tộc mình, Người trở nên vĩ đại và đáng yêu. Với các dân tộc trên thế giới, Người trở thành con người đáng kính và đáng khâm phục”. Ngài Tổng thống Ấn Độ Ven-ka-ta-ra-man ca ngợi: “...Hồ Chí Minh không chỉ là một nhà đấu tranh giải phóng dân tộc tiêu biểu. Bằng bản lĩnh và tài năng, Người đã lãnh đạo nhân dân mình tự giải phóng khỏi gông xiềng đế quốc, tạo dựng nên hình ảnh bất diệt trong trái tim khối óc của những người yêu nước Việt Nam. Người còn là một người có tinh thần quốc tế chủ nghĩa tuyệt vời: sống hết mình cho niềm tin cuộc sống của những dân tộc anh em khác, vì những mục đích cao cả của loài người trên khắp năm châu. Người là nguồn động lực và khát vọng cho tất cả những ai yêu hòa bình trên thế giới trong mọi thời đại”.

Nữ nhà báo, nhà văn Pháp Ma-đơ-len Ríp-phô từng đến Việt Nam nhiều lần, ở nhiều ngày và vinh dự được nhận làm con nuôi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bà tặng Bác Hồ cuốn sách “Ở miền Bắc Việt Nam viết dưới bom” với lời đề tặng: “Kính gửi Bác Hồ sự đóng góp nhỏ bé nhưng chân thành này vào cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam anh hùng với tất cả tấm lòng của cháu”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với các cháu thiếu nhi thành phố Kiép, thủ đô nước Cộng hòa Xô Viết Ucraina (Liên Xô)
Chủ tịch Hồ Chí Minh với các cháu thiếu nhi thành phố Kiép, thủ đô nước Cộng hòa Xô Viết Ucraina (Liên Xô), tháng 7/1959. Nguồn: Tài liệu lưu trữ Bộ Ngoại giao

Quốc trưởng Campuchia Nô-rô-đôm Xi-ha-núc viết: “...Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi vào lịch sử các dân tộc Đông Dương và các dân tộc châu Á, châu Phi và châu Mỹ-la-tinh như là tượng trưng cho cuộc đấu tranh yêu nước giành độc lập dân tộc. Được nhân dân kính mến, được các bạn hữu khâm phục, được kẻ thù tôn trọng, Người là một trong những nhân vật hoạt động chính trị và là lãnh tụ cao quý nhất của thế kỷ này...”. Giáo sư H.Din của Trường Đại học Bô-xtơn (Mỹ) viết “Người là một trong những lãnh tụ vĩ đại của thế kỷ này. Giữa lúc ở nhiều nơi trên thế giới rất cần cách mạng thì Người đã lãnh đạo hai cuộc cách mạng ở Việt Nam, một cuộc cách mạng nhằm thay đổi cơ cấu xã hội đã có từ lâu ở Việt Nam, để làm sao cho nhiều người hơn nữa có thể hưởng những thành quả của xã hội, và một cuộc cách mạng nhằm lật đổ ách thống trị của nước ngoài, trước đây là Pháp, sau này là Mỹ...”. Ba mươi năm trước, nhân kỷ niệm trọng thể 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tiến sĩ M. Ácmét, Giám đốc khu vực Châu Á - Thái Bình Dương của UNESCO đã nói: “Ít có nhân vật nào trong lịch sử đã trở thành huyền thoại ngay từ khi còn sống và rõ ràng Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong số đó”.

Thủ tướng Sri Lanka Ratnasiri lưu bút tại Khu di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch,
Thủ tướng Sri Lanka Ratnasiri lưu bút tại Khu di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, ngày 28/11/2006. Nguồn: Khu di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch

Ở nước Pháp, có khoảng 45 điểm di tích lưu giữ nhiều di tích, tài liệu, hiện vật quý liên quan đến sự nghiệp hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ năm 1911 đến 1927 và năm 1946. Nổi bật nhất là Ngôi nhà số 9, ngõ Công-poanh, quận 17, Pa-ri. Với việc sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa và tờ báo “Người cùng khổ”, Người đã góp phần thổi một luồng gió mới đến nhân dân các nước bị áp bức, đoàn kết họ trong cuộc đấu tranh chung chống chủ nghĩa đế quốc. Ở Cu-ba, tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh được đặt tại trung tâm công viên Hòa bình trên Đại lộ 26, một trong những đại lộ lớn nhất của thủ đô La Ha-ba-na. Công viên này được người dân gọi trìu mến là công viên Hồ Chí Minh. Tình cảm của nhân dân Lào đối với Bác Hồ rất thành kính, sâu đậm. Ở tỉnh Sê Kông, trên bàn thờ của hầu hết các gia đình đều đặt di ảnh Bác Hồ. Mỗi dịp lễ, tết quan trọng, họ đều thắp hương lên bàn thờ, mong được Bác Hồ phù hộ. Bài hát “Hồ Chí Minh kính yêu muôn đời” của nhạc sĩ Buangeun Saphouvong là bài hát thường được biểu diễn trong các sự kiện lớn của hai nước.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu ”, nhạc sĩ người Anh E-van Mác-câu viết bài hát “The ballad of Ho Chi Minh” (Bài ca Hồ Chí Minh). Bài hát đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và trở nên thân thuộc với công chúng nhiều nước. Tập thơ “Nhật ký trong tù” của Bác được dịch ra 35 thứ tiếng trên thế giới, có nước dịch và tái bản nhiều lần. Trong bài thơ "Hồ Chí Minh", nhà thơ An-giê-ri Tra-ba-ni Ac-khơ-mét viết: "Tên của Người đồng nghĩa với danh từ chống đế quốc/ Tên của người cao hơn mây bay/ Tên của Người cao hơn đại bác/ Tiếng nói của Người dội vang đất nước/ Kêu gọi nhân dân cầm vũ khí đứng lên”. Nhà thơ Bun-ga-ri Ghê-oóc-ghi Vê-xê-li-nôp viết về Người: "Một lãnh tụ và một trẻ thơ/ Đã hiểu nhau tự bao giờ/ Chân thành và bền chặt/ Và con tôi cứ tự hào nhắc mãi/ Hai bố con mình hôm ấy/ Đã cùng nói chuyện với Hồ Chí Minh...". Nhà thơ Đa-giô của In-đô-nê-xi-a ca ngợi Người: "Khi đức độ đã ngời như ngọc quý/ Thì có nghĩa gì chiếc ghế phủ nhung êm”. Nhân dân Hy Lạp đề những câu thơ tôn kính dưới bức ảnh Bác Hồ: "Người đã trở thành bất tử/ Người đã đứng vào hàng ngũ/ Những vị anh hùng của đỉnh A-cô-rô-pôn”.

Còn biết bao tác phẩm, câu chuyện ở trong nước và nước ngoài mà ở đó, Hồ Chí Minh là nguồn cảm hứng, là hình tượng cao đẹp, là niềm tin, là ánh lửa, là nguồn sức mạnh to lớn để các dân tộc, mọi con người vượt lên gian khổ, gông xiềng, bom đạn để giải phóng dân tộc mình, giải phóng xã hội, giải phóng con người, vươn tới cuộc sống tự do, dân chủ, công bằng, ấm no, hạnh phúc, được làm một đất nước độc lập, được làm một con người giản dị, nhân văn và chân chính.

a
Du khách thăm di tích nhà Bác Hồ tại quê nội Làng Sen và nghe thuyết minh về cuộc đời và sự nghiệp của Người. Ảnh tư liệu: Huy Thư

[1] Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, nguyên Tổng Giám đốc Đài TNVN.

[2] Theo “Lịch triều hiến chương loại chí” của nhà sử học Phan Huy Chú

[3] Theo cuốn sách “Vừa đi đường vừa kể chuyện”của tác giả T.Lan, bản in năm 1976 của Nhà xuất bản Sự thật.

[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.209.

[5] Trần Văn Giàu: Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng Tháng Tám, t.III,Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 1993, tr. 129.

[6] Bác Hồ với quê hương Nghệ Tĩnh (kỷ yếu Hội thảo khoa học kỷ niệm 100 năm Ngày sinh chủ tịch Hồ Chí Minh), NXB Nghệ Tĩnh, 1990, trang 94.

[7] Những dòng ghi cảm tưởng của khách quốc tế tại Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh (Phủ Chủ tịch), Ba Đình, Hà Nội.

0 0 0
Hồ Chí Minh - Nhà cách mạng vĩ đại, danh nhân văn hóa kiệt xuất
Google News
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO