Kinh tế

Khai mở “kho báu xanh”

Thanh Phúc | Thiết kế: Hữu Quân 30/08/2026 10:00

Từ những "cây thuốc" được người dân sử dụng qua nhiều thế hệ, dược liệu Nghệ An đang phát triển trở thành hàng hóa. Nhiều hộ dân, HTX đã bắt đầu trồng, chế biến, xây dựng sản phẩm và tìm đường vào thị trường. Từ rừng đến ruộng, từ cây thuốc đến sản phẩm, một hướng đi mới đang mở ra, biến lợi thế dược liệu thành sinh kế, thành giá trị và xa hơn là một ngành kinh tế xanh cho Nghệ An.

khobauxanh-cover.png

Thanh Phúc | Thiết kế: Hữu Quân • 30/08/2026

Từ những "cây thuốc" được người dân sử dụng qua nhiều thế hệ, dược liệu Nghệ An đang phát triển trở thành hàng hóa. Nhiều hộ dân, HTX đã bắt đầu trồng, chế biến, xây dựng sản phẩm và tìm đường vào thị trường. Từ rừng đến ruộng, từ cây thuốc đến sản phẩm, một hướng đi mới đang mở ra, biến lợi thế dược liệu thành sinh kế, thành giá trị và xa hơn là một ngành kinh tế xanh cho Nghệ An.

khobauxanh-t1.png

Ở xã Mường Quàng, cây thuốc từng gắn với những chuyến vào rừng của người dân. Biết cây nào làm thuốc, mùa nào có thể thu hái, người dân mang về sử dụng hoặc bán cho người cần. Nhưng bên cạnh những cây thuốc tìm thấy trong tự nhiên, một hướng làm khác đang hình thành: Khảo sát, giữ giống, nhân giống rồi đưa những cây thuốc phù hợp về gây trồng. Đây là cách để giá trị của cây thuốc được giữ lại lâu hơn trong đời sống, sản xuất, thay vì chỉ phụ thuộc vào những gì tự nhiên ban tặng.

Cây sa nhân tím đang được đưa vào trồng ở Mường Quàng. Ảnh: T.P
Cây sa nhân tím đang được đưa vào trồng ở Mường Quàng. Ảnh: T.P

Là người gắn bó nhiều năm với vùng rừng núi này, anh Lang Gia Lương - Giám đốc HTX Dịch vụ nông lâm Mường Quàng hiểu khá rõ giá trị của những loài cây thuốc bản địa. HTX đang bảo tồn, trồng mới khoảng 25ha dược liệu, trong đó có 20ha bo bo, 3ha nhân trần, 0,5ha đảng sâm, 0,5ha hoa hồi và khoảng 1ha các loại cây khác; đồng thời khai thác, thu mua thường xuyên khoảng 50 loại cây dược liệu bản địa để sơ chế, bào chế thuốc Nam. Điểm đáng chú ý trong cách làm của HTX là không đặt việc gây trồng đối lập với khai thác tự nhiên, mà từng bước chuyển từ thu hái sang chủ động tạo nguồn giống và vùng nguyên liệu.

Từ khi thành lập, HTX đã tạo việc làm trực tiếp cho 8 lao động địa phương, khoảng 30 hộ dân tham gia chuỗi cung ứng. Những con số còn khiêm tốn, nhưng thực tế cho thấy cây thuốc đang tạo ra một vòng giá trị mới ngay tại nơi nó sinh trưởng: Người dân có thể tham gia từ khâu giống, trồng, chăm sóc đến cung ứng nguyên liệu; HTX có thêm nguồn hàng ổn định để phát triển sản phẩm. Với xã Mường Quàng, “giữ” cây thuốc vì thế không chỉ là giữ một nguồn tài nguyên, mà còn là giữ lại một sinh kế.

Cây chè hoa vàng, một dược liệu quý vốn mọc phân tán trong rừng, được anh Hà Minh Tuấn, bản Hữu Văn, xã Quế Phong đưa về nhân giống, xây dựng vùng nguyên liệu hơn 3ha. Từ những cây mọc rải rác trong tự nhiên, anh tạo được vùng trồng chủ động, cho thấy cách tiếp cận mới với cây dược liệu miền núi: Thay vì chỉ khai thác những gì rừng có sẵn, người dân bắt đầu tạo ra nguồn nguyên liệu có thể tái sinh và thu hái bền vững.

Tại xã Nga My và xã Quế Phong, cây dược liệu đang được thử nghiệm như một hướng sinh kế mới cho hộ nghèo. Năm 2025, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia phối hợp với Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Bắc Trung Bộ triển khai mô hình trồng sâm đất, ba kích tại cả 2 địa phương, với tổng diện tích hơn 25ha và 79 hộ tham gia. Theo tính toán của mô hình, sâm đất sau 8-10 tháng có năng suất khoảng 25-30 tấn/ha, doanh thu dự kiến 250-300 triệu đồng/ha/năm, lợi nhuận ước 120-140 triệu đồng/ha; trong khi ba kích sau 3-4 năm có thể đạt doanh thu 300-400 triệu đồng/ha. Những kết quả bước đầu cho thấy, nếu được lựa chọn cây phù hợp, tổ chức sản xuất và gắn với đầu ra, dược liệu không chỉ có ý nghĩa trong bảo tồn nguồn gen bản địa mà còn có thể trở thành một hướng sinh kế để người dân nghèo nâng cao thu nhập.

Trung tâm Khuyến nông tỉnh hỗ trợ giống cây sâm đất cho bà con xã Quế Phong. Ảnh Ng.Hải
Trung tâm Khuyến nông tỉnh hỗ trợ giống cây sâm đất cho bà con xã Quế Phong. Ảnh Ng.Hải

Nhìn rộng ra toàn tỉnh, những mô hình ấy đang nối vào một bức tranh ngày càng rõ nét. Nghệ An đã bước đầu hình thành trên 3.180 ha vùng nguyên liệu dược liệu, với sự tham gia của doanh nghiệp, HTX và người dân; khoảng 1.500 ha được sản xuất theo hướng VietGAP, hữu cơ và ứng dụng công nghệ cao. Cùng với đó, khoảng 35 loài dược liệu vẫn được khai thác từ tự nhiên, với sản lượng ước 3.700 tấn/năm. Những con số ấy cho thấy nguồn dược liệu của Nghệ An không chỉ nằm trong rừng, mà đang dần được chuyển hóa thành những vùng nguyên liệu có chủ đích.

Nguồn dược liệu của Nghệ An không chỉ nằm trong rừng, mà đang dần được chuyển hóa thành những vùng nguyên liệu có chủ đích.

- - - - -

khobauxanh-t2.png

Nếu gây trồng là cách để chủ động tạo ra nguồn dược liệu, thì chế biến là bước quyết định để nguồn nguyên liệu ấy tạo thêm giá trị. Một cây thuốc sau khi thu hái được sơ chế, chế biến, chuẩn hóa thành sản phẩm, rồi xây dựng nhãn hiệu và đưa ra thị trường, giá trị được nâng lên, đồng thời tạo thêm việc làm và thu nhập ở ngay nơi sản xuất. Đây cũng là hướng đi để dược liệu Nghệ An không chỉ có vùng trồng mà từng bước hình thành những sản phẩm mang đặc trưng của từng vùng đất.

Tại HTX Dược liệu Phủ Quỳ, nghệ được chế biến thành tinh bột, viên nghệ mật ong; cà gai leo, hà thủ ô cũng được phát triển thành trà túi lọc, viên cà gai leo mật nhân, linh đan hà thủ ô... Trong đó, có nhiều sản phẩm đã được công nhận OCOP 3 sao. Bà Nguyễn Diệu Thúy - Giám đốc HTX Dược liệu Phủ Quỳ cho biết: “Đến nay, HTX chúng tôi có 10 sản phẩm, trong đó 7 sản phẩm đạt OCOP 3 sao, từng bước đưa sản phẩm ra thị trường nhiều tỉnh, thành. Doanh thu của HTX đạt gần 3 tỷ đồng, thu nhập bình quân của người lao động đạt khoảng 84 triệu đồng/người/năm, tạo việc làm ổn định cho 30 lao động. Những kết quả đó cho thấy, khi cây dược liệu được chế biến thành sản phẩm, có thương hiệu và thị trường, giá trị tạo ra sẽ lớn hơn nhiều so với chỉ bán nguyên liệu thô; đồng thời mở thêm cơ hội việc làm, thu nhập cho người dân”.

Câu chuyện ở Phủ Quỳ cho thấy giá trị của cây dược liệu có thể được nâng lên qua chế biến. Nhưng để khai mở đầy đủ hơn tiềm năng ấy, cần nhìn cây thuốc trong một không gian giá trị rộng hơn, từ một vùng nguyên liệu có thể tạo ra nhiều sản phẩm, phục vụ nhiều nhu cầu khác nhau của thị trường.

Xây dựng vùng trồng dược liệu tập trung ở xã Tam Hợp. Ảnh: T.P
Xây dựng vùng trồng dược liệu tập trung ở xã Tam Hợp. Ảnh: T.P

Ở Kim Liên, HTX Nông nghiệp Sen Quê Bác chọn cây sen làm cây dược liệu chủ lực, đồng thời xác định sen là nguồn thực phẩm, nguyên liệu và dược liệu có tiềm năng phát triển thành sản phẩm hàng hóa. Hơn 60 giống sen đã được HTX sưu tầm, trồng, chăm sóc và bảo tồn; từ cây sen, HTX nghiên cứu, phát triển và đưa ra thị trường 15 sản phẩm, nhiều sản phẩm đạt OCOP 3 sao, 4 sao. Điều đáng chú ý là trong cách làm của HTX, giá trị dược liệu không tách rời những giá trị khác của cây sen, mà cùng nằm trong một vùng nguyên liệu và một hệ sản phẩm.

Những cách làm ấy cho thấy, giá trị của dược liệu không dừng ở vùng trồng hay sản lượng thu hoạch. Mỗi công đoạn từ sơ chế, chế biến đến xây dựng thương hiệu, đưa sản phẩm ra thị trường đều mở thêm một tầng giá trị cho cây thuốc, đồng thời tạo thêm việc làm, thu nhập cho những người tham gia vào quá trình ấy. Khi cây thuốc đã có thể đi xa hơn khỏi cánh đồng, câu chuyện về “kho báu xanh” cũng không còn chỉ là chuyện có bao nhiêu cây thuốc, mà là làm thế nào để khai thác được hết giá trị của nguồn tài nguyên ấy.

khobauxanh-t3.png

Nhưng để những giá trị đang được tạo ra ở từng vùng đất không dừng lại ở những điểm sáng riêng lẻ, Nghệ An cần một cách tổ chức ở quy mô lớn hơn, đó là hình thành những vùng nguyên liệu đủ sức cung cấp cho chế biến, có doanh nghiệp dẫn dắt, có khoa học công nghệ đồng hành và có thị trường đủ rộng để cây thuốc đi xa. Cách tổ chức ấy trước hết phải bắt đầu từ không gian của cây dược liệu. Với hơn 1,4 triệu ha đất nông, lâm nghiệp, trong đó khoảng 1,16 triệu ha rừng và đất lâm nghiệp, Nghệ An có điều kiện để phát triển cả vùng trồng tập trung, dược liệu dưới tán rừng và vùng bảo tồn nguồn gen.

Phát triển dược liệu phải hướng tới 3 giá trị: Chăm sóc sức khỏe nhân dân, làm giàu cho người dân, nhất là miền núi, miền rừng và hình thành ngành kinh tế xanh, bền vững. Phải chuyển từ khai thác tự nhiên sang bảo tồn, gây trồng; từ nguyên liệu thô sang chế biến sâu; từ sản xuất nhỏ lẻ sang chuỗi giá trị; từ kinh nghiệm sang tiêu chuẩn, khoa học công nghệ và truy xuất nguồn gốc. Không phát triển theo phong trào, không chạy theo diện tích, không trồng rồi mới tìm thị trường; phải tổ chức lại sản xuất, tăng cường liên kết và lấy chế biến, khoa học công nghệ, thị trường làm động lực để nâng cao giá trị dược liệu”.

Đồng chí Võ Thị Minh Sinh -
Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, Trưởng ban Chỉ đạo phát triển dược liệu tỉnh Nghệ An

Phó Bí thư Tỉnh ủy tìm hiểu về mô hình trồng dược liệu tại xã Mường Ham. Ảnh: Thành Cường
Phó Bí thư Tỉnh ủy tìm hiểu về mô hình trồng dược liệu tại xã Mường Ham. Ảnh: Thành Cường

Theo định hướng đến năm 2030, tỉnh phấn đấu có khoảng 8.000ha dược liệu, gồm 4.500ha vùng trồng tập trung, 2.500ha dưới tán rừng và 1.000ha bảo tồn nguồn gen; khoảng 1.500ha đạt tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP hoặc hữu cơ. Không gian ấy cũng được tổ chức theo các vùng sinh thái, trong đó vùng Tây Bắc ưu tiên đảng sâm, sa nhân tím, lan kim tuyến, hà thủ ô đỏ; vùng Tây Nam phát triển ba kích, nghệ đen, gừng gió, địa liền; còn vùng trung du, đồng bằng tập trung những cây dược liệu hàng hóa ngắn ngày như: Nghệ, ích mẫu, ngưu tất, hương nhu.

Để những vùng nguyên liệu ấy không dừng lại ở những cánh đồng, hạ tầng chế biến và khoa học công nghệ được đặt vào vị trí trung tâm. Nghệ An định hướng xây dựng 5 nhà máy chế biến dược liệu tại các vùng Nghi Lộc, Quế Phong, Quỳ Châu, Mường Xén và Con Cuông; đồng thời hình thành Khu lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao khoảng 618ha làm trung tâm nghiên cứu, sản xuất giống và chế biến sâu. Công nghệ sinh học được định hướng phục vụ nhân giống; GIS, viễn thám và cơ sở dữ liệu được ứng dụng để quản lý vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc. Khi đó, từ một cây thuốc được nhân giống đến vùng trồng, từ vùng trồng đến nhà máy và từ nhà máy ra thị trường, mỗi công đoạn đều có thể được kiểm soát bằng tiêu chuẩn và công nghệ, thay vì phụ thuộc vào kinh nghiệm riêng lẻ.

ảnh dược liệu 2
Dược liệu xanh nơi “cổng trời” Mường Lống. Ảnh: TH

Từ những vùng trồng hôm nay đến mục tiêu hình thành thương hiệu “Dược liệu miền Tây Nghệ An” là một chặng đường cần sự vào cuộc của nhiều chủ thể, nhưng hướng đi đã được xác định khá rõ. Trước hết, doanh nghiệp đầu tư và dẫn dắt chuỗi, HTX và người dân tạo vùng nguyên liệu, các viện nghiên cứu và đơn vị khoa học công nghệ tham gia bảo tồn nguồn gen, chuyển giao kỹ thuật, còn tỉnh giữ vai trò kết nối và kiến tạo môi trường phát triển. Các đề xuất hợp tác đã hướng tới những chuỗi hoàn chỉnh từ giống, vùng trồng đạt GACP-WHO, quản lý số hóa, sơ chế, chiết xuất, chế biến sâu đến dược phẩm, thực phẩm bảo vệ sức khỏe và mỹ phẩm thiên nhiên. Khi những mắt xích ấy được nối lại, cây thuốc không còn là câu chuyện riêng của một hộ dân, một HTX hay một sản phẩm OCOP, mà có thể trở thành một chuỗi kinh tế gắn với rừng, đất đai, khoa học, công nghiệp chế biến và thị trường.

Và khi ấy, “kho báu xanh” mà Nghệ An đang có mới thực sự được mở ra…

0 0 0
Khai mở “kho báu xanh”
Google News
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO