Kinh tế

Kỳ 3: Những mô hình thích ứng với hạn hán

Nhóm P.V | Thiết kế: Hữu Quân 27/06/2026 11:29

Khi nắng nóng kéo dài hơn, nguồn nước cạn kiệt hơn, những kinh nghiệm được đúc kết qua nhiều thế hệ bắt đầu bộc lộ giới hạn, người làm nông hiểu rằng họ không thể mãi chống chọi bằng những cách thức cũ. Trên những vùng đất từng được xem là bất lợi nhất, một cuộc chuyển mình lặng lẽ đang diễn ra: từ cách tưới, cách chọn cây đến cách tạo ra giá trị từ nông sản. Đó không chỉ là nỗ lực vượt qua một mùa hạn, mà là hành trình học cách tồn tại trong một trạng thái khí hậu đã khác trước.

hanhancucdoan-b3-cover.png

Nhóm P.V | Thiết kế: Hữu Quân • 27/06/2026

Khi nắng nóng kéo dài hơn, nguồn nước cạn kiệt hơn, những kinh nghiệm được đúc kết qua nhiều thế hệ bắt đầu bộc lộ giới hạn, người làm nông hiểu rằng họ không thể mãi chống chọi bằng những cách thức cũ. Trên những vùng đất từng được xem là bất lợi nhất, một cuộc chuyển mình lặng lẽ đang diễn ra: từ cách tưới, cách chọn cây đến cách tạo ra giá trị từ nông sản. Đó không chỉ là nỗ lực vượt qua một mùa hạn, mà là hành trình học cách tồn tại trong một trạng thái khí hậu đã khác trước.

hanhancucdoan-b3-tit1.png

Sinh ra và lớn lên ở vùng bãi ngang ven biển Quỳnh Anh, anh Nguyễn Văn Vĩnh vẫn nhớ rõ những mùa hè hạn nặng, khi giếng cạn trơ đáy, cả nhà phải thay nhau canh từng gàu nước để cứu rau màu. Khi ấy, chống hạn chủ yếu dựa vào sức người: đào thêm giếng, kéo thêm vòi, tranh thủ từng khoảng thời gian trong ngày để tưới giữ cây. Nhưng những năm gần đây, khi nắng nóng kéo dài hơn và nguồn nước ngầm không còn dồi dào như trước, cách làm quen thuộc ấy dần bộc lộ những giới hạn khó vượt qua.

Tiếp nối nghề của cha ông trên diện tích một héc-ta chuyên canh rau màu với phương châm "mùa nào thức ấy", anh Vĩnh hiểu rằng nếu vẫn giữ nguyên cách làm cũ thì rất khó đi đường dài. Mảnh đất sát chân núi vốn đã thiếu nước, mỗi mùa hè lại càng khắc nghiệt hơn. Bởi vậy, thay vì chờ đến khi hạn xảy ra mới xoay xở tìm cách ứng phó, gia đình anh chủ động tính chuyện tích nước từ sớm. Một ao chứa nước được đào thêm, 9 giếng khoan được bố trí hợp lý để tận dụng nguồn nước ngầm. Với chi phí đầu tư khoảng 9–12 triệu đồng mỗi sào cho hệ thống phun bán tự động, chỉ cần bật công tắc, trong vài giờ, cả một héc-ta rau được tưới xong.

Tưới rau bán tự động giúp nước tưới được rải đều, cây rau phát triển thuận lợi
Tưới rau bán tự động giúp nước tưới được rải đều, cây rau phát triển thuận lợi.

Nhờ vậy, ngay cả vào giai đoạn nắng nóng gay gắt nhất từ tháng Năm đến tháng Sáu, gia đình anh cũng chỉ phải cho đất nghỉ khoảng một tháng trước khi bước vào chu kỳ sản xuất mới. "Khi nước còn bấp bênh, tôi chỉ dám trồng mướp leo giàn vì loại cây này dễ chăm sóc hơn, ít áp lực tưới hơn. Từ khi có ao trữ nước và đầu tư hệ thống béc tưới bán tự động, tôi tận dụng luôn khoảng đất dưới giàn để xen canh thêm rau màu, trồng ngô lấy lá nuôi hươu. Một vụ mướp kéo dài khoảng 45 đến 60 ngày, năng suất đạt từ 1,2 đến 1,5 tấn mỗi sào. Cùng một diện tích nhưng thu nhập khác hẳn trước đây", anh Vĩnh chia sẻ.

Trồng hành lá đem lại thu nhập cao cho nông dân các vùng rau trên địa bàn tỉnh
Trồng hành lá đem lại thu nhập cao cho nông dân các vùng rau trên địa bàn tỉnh.

Sự thay đổi ấy không chỉ diễn ra ở quy mô từng hộ gia đình. Tại HTX Nông nghiệp Quỳnh Bảng, Ban Giám đốc đã chủ động tìm đến các mô hình sản xuất ở Tây Nguyên để học hỏi kinh nghiệm chống hạn. Trở về sau những chuyến đi ấy, họ quyết định đầu tư một hệ thống bể chứa nước tập trung rộng tới 1.000m² ngay giữa vùng sản xuất. Ba máy bơm công suất lớn liên tục hút nước vào bể chứa. Khi mực nước đạt ngưỡng tiêu chuẩn, áp lực tự nhiên sẽ đẩy nước theo đường ống tổng dài từ 40 đến 60 mét tới từng khu vực sản xuất. Cơ chế vận hành ấy giải quyết được nhiều vấn đề cùng lúc: nguồn nước đầu vào luôn ổn định, máy móc hoạt động đều tải, hạn chế hỏng hóc và tiết kiệm đáng kể điện năng tiêu thụ.

Từ việc chống hạn để giữ lấy cây trồng, người dân đã từng bước chuyển sang bài toán sử dụng nước hiệu quả để gia tăng giá trị sản xuất. Trên những diện tích trước đây buộc phải trồng thưa các loại cây leo giàn như mướp hương, mướp Lào để giảm áp lực tưới, nay phía trên vẫn là giàn mướp phủ xanh, nhưng khoảng không bên dưới đã được tận dụng để trồng hành lá và các loại rau ăn lá ngắn ngày, người dân có thêm nguồn thu trên cùng một đơn vị diện tích. Bình quân một sào hành lá cho sản lượng từ 1,6 đến 1,8 tấn sau 45–50 ngày, doanh thu đạt từ 13 đến 15 triệu đồng. Trong khi đó, tầng giàn mướp phía trên với chu kỳ khoảng 55 ngày cũng mang lại doanh thu khoảng 400 triệu đồng mỗi héc-ta.

Rời vùng bãi ngang ven biển, câu chuyện thích ứng với hạn hán tiếp tục được viết theo một cách khác ở vùng bán sơn địa Tân Sơn. Được thành lập năm 2021 trên diện tích 6,5 héc-ta, HTX Rau củ quả sạch Duy Tân dành hơn một héc-ta để xây dựng hệ thống nhà màng chuyên canh rau thủy canh hiện đại. Trong không gian khép kín ấy, nước không còn được tưới theo cảm tính hay chảy tràn theo mặt đất mà tuần hoàn liên tục qua hệ thống kiểm soát tự động.

Chị Dương Thị Liên, Giám đốc HTX, cho biết điều khiến mô hình này khác biệt không chỉ nằm ở quy trình sản xuất nghiêm ngặt, mà còn ở khả năng tiết kiệm tài nguyên nước. Bằng công nghệ thủy canh tuần hoàn khép kín, trang trại giảm được khoảng 40% lượng nước tưới so với phương thức canh tác truyền thống, trong khi vẫn duy trì sản lượng hàng trăm tấn rau mỗi năm để cung ứng cho trường học, chuỗi cửa hàng thực phẩm sạch, nhà hàng và các siêu thị lớn.

hanhancucdoan-b3-tit2.png

Nếu ở Quỳnh Anh hay Tân Sơn, thích ứng bắt đầu từ việc sử dụng nước hiệu quả hơn để giữ lại những cây trồng quen thuộc, thì ở nhiều vùng đất cao cưỡng, cuối nguồn, người dân buộc phải lựa chọn quyết liệt hơn: chuyển đổi cơ cấu cây trồng để phù hợp với điều kiện mới. Vùng nguyên liệu của Công ty TNHH XNK Thảo dược ở xã Bạch Ngọc là một ví dụ. Ít ai nghĩ rằng khu đất phủ xanh tía tô, hương nhu, sả hôm nay từng bị bỏ hoang vì thiếu nước. Năm 2021, khi nhận thầu 1,5 ha đất này, chị Nguyễn Thị Hằng, Giám đốc công ty, từng đối mặt với nhiều hoài nghi. "Nếu trồng theo cách cũ thì đúng là khó làm. Nhưng đất nào cũng có cái hợp của nó. Vấn đề là mình có tìm được loại cây phù hợp hay không", chị nói.

Hiểu rằng nước là điều kiện tiên quyết, doanh nghiệp đầu tư dẫn nước từ hệ thống kênh nội đồng về các mương bao quanh vùng nguyên liệu, bố trí máy bơm nhỏ để cấp nước đúng thời điểm cần thiết. Khi bài toán nước tưới từng bước được tháo gỡ, những loại cây chịu hạn như tía tô, hương nhu, ngải cứu, nghệ, sả bắt đầu bén rễ trên vùng đất khô cằn. Từ 1,5 ha ban đầu, đến nay diện tích liên kết đã mở rộng lên khoảng 6 ha. Từ nguồn dược liệu ấy, doanh nghiệp phát triển 26 dòng sản phẩm, trong đó có 10 sản phẩm đạt chứng nhận OCOP cấp tỉnh. Qua đó chứng minh, trên vùng đất từng bị xem là bất lợi, thích ứng không chỉ giúp duy trì sản xuất mà còn mở ra hướng đi mới với giá trị kinh tế cao hơn.

Cán bộ Trung tâm Khuyến nông tỉnh kiểm tra tình hình sản xuất cây nguyên liệu thảo dược tại xã Bạch Ngọc
Cán bộ Trung tâm Khuyến nông tỉnh kiểm tra tình hình sản xuất cây nguyên liệu thảo dược tại xã Bạch Ngọc.

Tại xã biên giới Châu Khê, từ những diện tích ngô, sắn, mía thường xuyên mất mùa vì thiếu nước, người dân đang chuyển sang trồng sả Java, húng quế, tràm năm gân. Những loại cây dược liệu này không chỉ chịu hạn tốt, ít sâu bệnh mà còn mở ra hướng sản xuất mới gắn với liên kết bao tiêu và chế biến tinh dầu, từng bước hình thành vùng nguyên liệu tập trung, tạo sinh kế ổn định hơn cho người dân vùng biên. Cùng với đó, nhiều mô hình liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị được triển khai, giúp nông dân yên tâm đầu ra, giảm phụ thuộc vào thời tiết và thị trường tự do.

Trên diện tích 2 sào đất cao cưỡng, gia đình bà Lương Thị Tiệp ở bản Chôm Lôm, xã Châu Khê chuyển sang trồng sả Java. Ảnh: T.P
Trên diện tích 2 sào đất cao cưỡng, gia đình bà Lương Thị Tiệp ở bản Chôm Lôm, xã Châu Khê chuyển sang trồng sả Java. Ảnh: T.P

Sau nhiều mùa vụ phải oằn mình chống chọi với nắng hạn, ngày càng nhiều địa phương bắt đầu nhìn lại những chân ruộng cao cưỡng, cuối nguồn nước hoặc thường xuyên sản xuất kém hiệu quả để tính toán lại phương án canh tác. Có những diện tích được chuyển sang trồng ngô sinh khối phục vụ chăn nuôi; có nơi đưa đậu xanh, vừng vào sản xuất; nhiều vùng mạnh dạn phát triển cây ăn quả, dược liệu hoặc cỏ phục vụ đại gia súc.

Giai đoạn 2020-2025, toàn tỉnh đã chuyển đổi gần 2.200 héc-ta đất lúa kém hiệu quả sang các loại cây trồng khác, mang lại mức thu nhập từ 40 đến 200 triệu đồng mỗi héc-ta, cao hơn đáng kể so với canh tác lúa truyền thống. Năm 2026, Nghệ An tiếp tục đặt mục tiêu chuyển đổi thêm khoảng 225 héc-ta.

Chuyển đổi trồng cây dược liệu trên vùng đất kém hiệu quảPhương thức trồng rau thuỷ canh tại Tân Sơn giúp tài nguyên nước được sử dụng tối ưu
Chuyển đổi trồng cây dược liệu trên vùng đất kém hiệu quả.
hanhancucdoan-b3-tit3.png

Không phải nơi nào thích ứng với hạn hán cũng bắt đầu bằng việc chuyển đổi cây trồng. Trên nhiều cánh đồng Nghệ An, người dân vẫn chọn gắn bó với cây lúa, chỉ khác là họ buộc phải thay đổi cách làm. Bởi sau nhiều năm chứng kiến những chiếc máy bơm phải làm việc đến quá tải vào cao điểm nắng nóng, mực nước sông Lam liên tục xuống thấp, các trạm bơm vật lộn đưa nước về cuối kênh, ngày càng nhiều người nhận ra rằng, nếu vẫn giữ thói quen canh tác cũ, ngay cả cây lúa cũng sẽ trở thành gánh nặng đối với nguồn nước vốn đã mong manh hơn trước.

Ống đo mực nước giúp kiểm soát tốt lượng nước trong sản xuất lúa carbon
Ống đo mực nước giúp kiểm soát tốt lượng nước trong sản xuất lúa carbon.

Trên cánh đồng xã Minh Châu, nơi được xem là một trong những địa phương đi đầu trong sản xuất lúa carbon của Nghệ An, điều khiến nhiều nông dân băn khoăn nhất trong những ngày đầu triển khai mô hình lại nằm ở một việc tưởng chừng rất đơn giản: không giữ nước ngập ruộng liên tục như cách họ vẫn làm suốt bao năm. Giữa thửa ruộng, những chiếc ống nhựa nhỏ được cắm xuống đất để theo dõi mực nước. Người dân không còn nhìn màu nước trên mặt ruộng để quyết định bơm tưới, mà căn cứ vào chỉ số trong ống đo. Khi mực nước hạ xuống ngưỡng quy định, nước mới được cấp trở lại. Khoảng thời gian giữa hai lần tưới được kéo dài hơn theo nguyên tắc ngập - khô xen kẽ. Người dân giảm đáng kể chi phí bơm tưới, bớt công điều tiết nước mà cây lúa vẫn phát triển tốt, cứng cây và ít sâu bệnh hơn, năng suất cao hơn.

Ông Lê Thế Hiếu, Phó Chủ tịch UBND xã Minh Châu cho biết: "Ban đầu bà con khá e ngại vì phương thức tưới này khác hẳn tập quán canh tác trước đây. Tuy nhiên, sau khi áp dụng, hiệu quả mang lại vượt ngoài kỳ vọng: lượng nước sử dụng giảm 30-50%, số lần tưới giảm từ 7 xuống còn 5 đợt, nhưng năng suất vẫn tăng 10-15%, bình quân đạt 56,3-67,4 tạ/ha. Chính kết quả trên đồng ruộng đã khiến người dân chủ động đăng ký tham gia”.

lúa carbon 2Cán bộ xã Vạn An kiểm tra mực nước trên ruộng lúa sản xuất theo phương thức nông lộ phơi
Cán bộ xã Vạn An kiểm tra mực nước trên ruộng lúa sản xuất theo phương thức nông lộ phơi.

Triển khai từ vụ xuân năm 2024, mô hình sản xuất lúa giảm phát thải để tạo tín chỉ carbon tại Nghệ An được xem là một bước đi mới trong xu hướng nông nghiệp xanh. Nhưng trước khi nói đến câu chuyện tín chỉ carbon hay thị trường quốc tế, điều mà người nông dân cảm nhận rõ nhất lại đến từ những thay đổi rất cụ thể trên đồng ruộng: bớt những lần thức khuya dậy sớm đi mở nước, bớt những ngày thấp thỏm chờ trạm bơm vận hành, bớt nỗi lo ruộng cuối nguồn không đến lượt tưới khi hạn hán lên đến đỉnh điểm.

Ở góc độ quản lý thủy lợi, những thay đổi ấy còn mang ý nghĩa lớn hơn. Ông Phạm Thế Phi, Trưởng phòng Kỹ thuật Công ty TNHH Thủy lợi Nam, đơn vị đang đảm nhận tưới cho khoảng 17.000 ha lúa, trong đó có gần 8.000 ha lúa carbon tại các xã Kim Liên, Đại Huệ, Hưng Nguyên, Trung Lộc... cho biết, việc triển khai đồng bộ kỹ thuật nông lộ phơi đã giúp đơn vị giảm đáng kể áp lực vận hành trong mùa khô.

Các chuyên gia phân tích mẫu đất mẫu nước đo được tại các cánh đồng lúa carbon. Ảnh: Quang An
Các chuyên gia phân tích mẫu đất mẫu nước đo được tại các cánh đồng lúa carbon. Ảnh: Quang An

Trước đây, vào những thời điểm nắng nóng gay gắt, các trạm bơm gần như phải chạy liên tục để đáp ứng nhu cầu tưới tập trung của bà con. Khi áp dụng kỹ thuật tưới ngập - khô xen kẽ, nhu cầu cấp nước được giãn ra, không còn dồn dập như trước. Nhờ giảm được khoảng ba đợt tưới mỗi vụ, đơn vị tiết kiệm gần 3 tỷ đồng tiền điện vận hành mỗi năm, đồng thời giữ lại được lượng nước rất đáng kể cho các vùng cuối kênh”.

Ông Phạm Thế Phi - Trưởng phòng Kỹ thuật Công ty TNHH Thủy lợi Nam

Từ quy mô ban đầu hơn 5.700 ha vào năm 2024, đến vụ hè thu năm nay, diện tích sản xuất lúa carbon của Nghệ An đã tăng lên khoảng 30.000 ha tại hơn 51 xã trên địa bàn tỉnh. Sự mở rộng ấy phần nào cho thấy những đổi thay trên đồng ruộng không còn dừng lại ở những mô hình trình diễn nhỏ lẻ, mà đang dần trở thành lựa chọn của nhiều địa phương. Theo tính toán, phương thức canh tác này có thể giúp giảm từ 50% đến hơn 66% lượng phát thải khí nhà kính. Nhưng đối với người nông dân Nghệ An, giá trị dễ nhận thấy hơn cả có lẽ vẫn là việc họ đang học được cách làm ra hạt lúa bằng ít nước hơn, ít chi phí hơn và chủ động hơn trước những biến động ngày càng khó lường của thời tiết.

bna_bai539.jpg
Đầu tư hệ thống tưới tự động trên vùng đất bãi ở Hưng Nguyên Nam. Ảnh: T.P

Nhìn lại hành trình thích ứng với hạn hán trên những vùng đất khát của Nghệ An, có thể thấy mỗi nơi đang tìm cho mình một lời giải khác nhau. Điểm gặp nhau của những lựa chọn ấy nằm ở chỗ, người nông dân không còn sản xuất theo quán tính và kinh nghiệm đơn thuần. Khi từng mét khối nước trở nên quý giá hơn, việc quản lý nguồn nước bằng khoa học, lựa chọn cây trồng theo lợi thế và nâng cao giá trị nông sản qua chế biến không chỉ là giải pháp ứng phó với một mùa hạn trước mắt, mà đã trở thành yêu cầu của một nền nông nghiệp muốn đi đường dài trong bối cảnh khí hậu đang đổi thay từng ngày.

(Còn nữa)


0 0 0

Nổi bật Báo Nghệ An

Kỳ 3: Những mô hình thích ứng với hạn hán
Google News
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO