Ký ức “cõng chữ vượt Trường Sơn” của thầy giáo đi B
Năm 2025, trong số các nhà giáo đi B được Bộ Giáo dục và Đào tạo gặp mặt, vinh danh đã có nhiều cống hiến cho sự nghiệp phát triển giáo dục miền Nam thời kỳ chống Mỹ cứu nước (giai đoạn 1961-1965) có nhà giáo Hoàng Tư Hậu ở phường Vinh Phú. Gần 40 năm công tác trong ngành Giáo dục, dù thời chiến hay thời bình ông luôn giữ tác phong mẫu mực của một người “lái đò” tận tụy, thầm lặng dìu dắt bao thế hệ học sinh qua bến bờ tri thức…

Nội dung: Khánh Ly / Kỹ thuật: Hồng Toại • 28/12/2025
------------o0o------------
Năm 2025, trong số các nhà giáo đi B được Bộ Giáo dục và Đào tạo gặp mặt, vinh danh đã có nhiều cống hiến cho sự nghiệp phát triển giáo dục miền Nam thời kỳ chống Mỹ cứu nước (giai đoạn 1961-1965) có nhà giáo Hoàng Tư Hậu ở phường Vinh Phú. Gần 40 năm công tác trong ngành Giáo dục, dù thời chiến hay thời bình ông luôn giữ tác phong mẫu mực của một người “lái đò” tận tụy, thầm lặng dìu dắt bao thế hệ học sinh qua bến bờ tri thức…

Căn nhà nhỏ của nhà giáo Hoàng Tư Hậu (SN 1942) nằm sâu trong một con ngõ yên tĩnh ở phường Vinh Phú (Nghệ An). Khoảng sân trước nhà rợp bóng cây, điểm xuyết những chậu hoa giản dị như chính cuộc đời người thầy đã trải qua bao thăng trầm nhưng luôn chọn sự điềm đạm, lặng lẽ.

Trong cuộc trò chuyện cuối năm, bên ấm chè thơm hương nhài, ông gần như không nói nhiều về mình. Câu chuyện của ông xoay quanh đồng nghiệp, học trò, những miền đất đã đi qua và những ký ức không thể nào quên của một thời “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”.

Sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống hiếu học và yêu nước ở huyện Yên Thành (cũ), tỉnh Nghệ An, trong 8 anh chị em thì có 4 người trực tiếp tham gia chiến trường miền Nam. Dù cha làm trong ngành Tòa án, nhưng Hoàng Tư Hậu lại chọn con đường sư phạm tiếp nối người anh trai cả, với niềm tin giản dị: Làm thầy giáo cũng là một cách góp sức cho đất nước.
Năm 1962, ông thi đỗ Khoa Hóa, Trường Đại học Sư phạm Vinh (nay là Đại học Vinh). 3 năm sau, khi đang học năm thứ ba, phong trào sinh viên “gác bút nghiên” lên đường vào Nam diễn ra sôi nổi. Ông được Bộ Giáo dục và Đào tạo phân công công tác tại Hòa Bình - một vùng khó khăn, thiếu thốn trăm bề.

Hành trình ra Bắc nhận nhiệm vụ là một kỷ niệm không thể quên. “Mặt trời lưng chừng phía Tây, một mình khoác chiếc ba lô màu nâu dọc đê nông giang xuống biển Diễn Châu, qua đò sông Bùng lúc trời chạng vạng tối. Cầu Bùng đã bị máy bay đánh sập. Tôi lên đường số 1 rồi nhập vào đoàn người xa lạ lặng lẽ đi bộ ra Bắc… Gian nan nhất là phải vượt qua vùng giáp ranh Thanh - Nghệ vì đoạn đường hiểm yếu này bị Mỹ đánh phá suốt ngày đêm phải chạy cho nhanh cho qua vùng hố bom chi chít, khoảng chừng đến Phủ Lý thì có xe khách ra Hà Nội, xếp hàng cả ngày dài ở bến xe thì mua được vé ô tô lên Hòa Bình”, nhà giáo Hoàng Tư Hậu nhớ lại.
Gian nan ấy chỉ là khởi đầu cho một chặng đường dài đầy thử thách. Gần 9 năm công tác tại Hòa Bình (1965-1973), thầy Hậu được phân công dạy ở Trường Trung cấp Sư phạm, Trường cấp III Hoàng Văn Thụ, rồi giữ cương vị Phó Hiệu trưởng Trường cấp III Kỳ Sơn (Hòa Bình). Lớp học khi thì dưới nhà sàn, khi giữa rừng núi, thầy trò vừa dạy học, vừa dựng lán trại.
Buổi tối, ông còn dạy bổ túc văn hóa cho công nhân, cho các lớp sĩ quan pháo binh tập trung. Từ tháng 9/1970, nhà giáo Hoàng Tư Hậu được phân công về làm cán bộ chuyên môn ở Ty Giáo dục Hòa Bình, tháng 8/1972, ông được cử đi học để tuyển chọn nghiên cứu sinh nước ngoài.
Đến năm 1972, Mỹ dùng B52 đánh phá Hà Nội ác liệt, ông được triệu tập về Bộ Giáo dục và Đào tạo tham gia lớp huấn luyện đặc biệt để chuẩn bị đi B - vào chiến trường miền Nam làm nhiệm vụ giáo dục. Tháng 3/1973, trước khi vào Nam, ông tổ chức đám cưới giản dị với cô giáo Trịnh Thị Oanh quê gốc Nam Định. Ít lâu sau, người thầy trẻ lên đường, để lại người vợ đang mang thai. Ông dặn: Nếu sinh con trai, hãy đặt tên là Nam Sơn - để nhớ rằng, cha đang ở phía Nam Trường Sơn.
.jpg)
Thời điểm ấy không quân Mỹ còn đánh phá ác liệt, phải mất 2 tháng băng rừng, vượt suối, đoàn giáo viên mới đặt chân tới Nam Bộ. Sự có mặt của các thầy, cô trên chiến trường miền Nam trong những năm tháng vừa chiến đấu, vừa làm nhiệm vụ giáo dục đã thể hiện tinh thần: Dù trong bất kỳ hoàn cảnh khó khăn, gian khổ nào, sự nghiệp giáo dục cách mạng vẫn tồn tại và phát triển, con em nhân dân vẫn phải được học tập, trình độ văn hóa của nhân dân phải luôn được nâng cao.
Thành viên trong đoàn được chia ra nhiều địa phương, thầy Hoàng Tư Hậu được phân công về huyện Tân Biên (Tây Ninh) - căn cứ của Trung ương Cục miền Nam. “Việc đầu tiên của chúng tôi là vào rừng chặt tre, chặt cây, cắt gianh để dựng lán trại làm trụ sở phòng giáo dục và vài lán trại khác làm nơi đào tạo giáo viên tại chỗ (gọi là Trường Sư phạm). Đến năm 1974, tôi được phân về hình thành một số lớp học ở xã Bình Thạnh. Chung quanh lớp học đều đào hầm trú ẩn… nhiều ngày đêm máy bay địch vẫn gầm rú, tiếng bom đạn ùng oàng lúc xa, lúc gần", nhà giáo Hoàng Tư Hậu chia sẻ.
Ngoài dạy học, thầy Hậu còn có nhiệm vụ lo ăn, ở, sản xuất, phòng bệnh cho các ấp mới thành lập. Gian khổ là vậy, nhưng điều khiến ông nhớ nhất chính là nghĩa tình của người dân miền Nam.

Ông ở nhờ nhà ông bà Tư Thôi - một mái nhà tranh đơn sơ giữa rừng. Ông bà cho thầy mượn khung xe đạp gãy, nhặt vành xe bỏ ven bìa rừng, hàn lại thành chiếc “xe 3 không” để đi công tác. Cuối năm 1974, nhận tin vợ sinh con trai ngoài Bắc, ông chỉ kịp viết vài dòng gửi theo người ra hậu phương, mong thư đến được tay gia đình.
Sau ngày 30/4/1975, nhà giáo Hoàng Tư Hậu cùng đồng nghiệp tiếp quản cơ sở giáo dục, tổ chức bồi dưỡng giáo viên, hoàn tất năm học dang dở và xây dựng nền giáo dục mới trong điều kiện vô cùng thiếu thốn.
Những buổi đứng lớp bồi dưỡng giáo viên ở Phú Khương, Gò Dầu… là kỷ niệm ông nhớ nhất. “Ban đầu mọi người còn ngần ngại khi tiếp xúc với anh em giải phóng quân, nhưng dần dần không khí hòa hợp lại bởi những bài giảng thú vị, cách trò chuyện chân thành, gần gũi. Tôi chuẩn bị kỹ, thỉnh thoảng có minh họa bằng vài câu thơ, đoạn văn trong sách giáo khoa giải phóng mới, tôi cũng có nói đến một số thành tựu KHKT trên thế giới mà mình biết. Sau vài buổi học, lúc giải lao, nhiều anh em giáo viên quây quanh trò chuyện vui vẻ. Lần khác, huyện bố trí cho toàn bộ giáo viên ăn nghỉ tập trung, buổi tối giao lưu sinh hoạt văn nghệ, anh em đề nghị tôi hát, tôi xin đọc bài thơ "Lửa đèn" của nhà thơ Phạm Tiến Duật “…ngày mai, ngày mai hoàn toàn chiến thắng. Anh dắt tay em trời chi chít sao trăng”… đọc đến đây tiếng vỗ tay rầm rầm không dứt, âm thanh ấy như còn đọng trong đầu tôi đến tận bây giờ”, nhà giáo Hoàng Tư Hậu viết trong cuốn hồi ký "Dặm đường".

Gần 40 năm đứng trên bục giảng, dù ở chiến trường hay thời bình, nhà giáo Hoàng Tư Hậu luôn giữ trọn cốt cách của một người thầy mẫu mực. Sau 12 năm công tác ở trong Nam, ngoài Bắc, năm 1997, nhà giáo Tư Hậu trở về quê hương, được Sở Giáo dục Nghệ Tĩnh phân công về dạy Trường Bồi dưỡng giáo viên.
Bên cạnh đó, ông cũng được trường chuyên mời tham gia luyện thi đại học. Dù có thời gian được Sở Giáo dục và Đào tạo Nghệ An phân công làm Phó trưởng Phòng Đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, nhưng niềm đam mê với môn Hóa học và giảng dạy vẫn thôi thúc ông quay lại lớp học.

Mái trường mà nhà giáo Hoàng Tư Hậu gắn bó cho đến khi nghỉ hưu năm 2003 là Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng. Nhiều thế hệ học trò của ông đã trưởng thành, trở thành giảng viên, nhà khoa học, kỹ sư, bác sĩ… Có học trò đạt giải quốc gia, có người trở thành PGS, TS tại các trường đại học lớn trong và ngoài nước.
Nhưng điều khiến các thế hệ học trò của nhà giáo Hoàng Tư Hậu nhớ nhất không chỉ là kiến thức, mà là tấm lòng nhân hậu, vị tha, yêu trò như con của một người thầy. Chị Mai Hoa ở phường Trường Vinh, học sinh khóa 75, Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng chia sẻ: “…Trong lớp chúng tôi có hai bạn hoàn cảnh khó khăn. Biết được hoàn cảnh của học trò, thầy đã dạy phụ đạo miễn phí cho hai bạn tại nhà riêng. Vì sợ học trò ngại và mặc cảm với bạn bè, thầy không để học sinh khác trong lớp biết. Chỉ đến buổi chia tay tốt nghiệp ra trường hai học sinh nói ra bí mật ấy trước lớp trong sự nghẹn ngào và bày tỏ lòng biết ơn thầy thì cả lớp mới hay...”.

Một cựu học trò khác là PSG.TS hóa học của một trường đại học phía Nam đã viết những dòng đầy xúc động “Bây giờ nhìn lại con đường mình đã đi qua, tôi luôn thầm cảm ơn ba Hậu - nếu không có ba, chắc chắn không có tôi của ngày hôm nay - một tôi sống vì đam mê nghiên cứu giảng dạy Hóa học. Tôi luôn nghĩ rằng, ba Hậu đã thực sự coi chúng tôi như con. Ba đã hiểu chúng tôi đến mức biết nghề nào sẽ phù hợp với học trò nào… mặc dù tôi là một người rất nhút nhát nhưng thầy đã làm cho tôi tin rằng, mình có thể trở thành giáo viên tốt…”.
Không chỉ là người thầy có tâm, ông còn là “sợi dây” gắn kết những nhà giáo “đi B” ở Nghệ An. Trò chuyện với chúng tôi, nhà giáo Hoàng Tư Hậu cho biết: Nghệ An là đất học, là tỉnh có đội ngũ giáo viên khá hùng hậu đã bổ sung cho các chiến trường khoảng 200 nhà giáo vào Nam làm công tác tuyên truyền, xây dựng và phát triển nền giáo dục cách mạng (gọi là đi B) những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, trong đó, có 14 liệt sĩ, 4 người bị địch bắt tù đày, nhiều người trở về mang trong mình vết thương chiến tranh. Năm 2000, những nhà giáo đi B đã tìm đến nhau và tự nguyện thành lập ban liên lạc, từ đó đến nay, được sự ủng hộ của Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Giáo dục và Đào tạo, Hội Cựu giáo chức tỉnh, các thế hệ học sinh cũ…
Ban liên lạc đã nhiều lần tổ chức gặp mặt, ôn lại truyền thống, tổ chức các hoạt động thăm hỏi đồng nghiệp đau yếu hoặc hiếu hỷ. Đặc biệt, toàn thể các nhà giáo đi B đã ký tên kiến nghị lên Chính phủ, Trung ương và Bộ GD&ĐT truy tặng danh hiệu Anh hùng cho liệt sĩ, nhà giáo Lê Thị Bạch Cát - người con của miền biển Cửa Lò, vào chiến trường khu Sài Gòn - Gia Định tham gia biệt động thành (bí danh Sáu Xuân); nguyên Quận ủy viên, nguyên Bí thư Quận đoàn, nguyên Bí thư Chi bộ Võ trang tuyên truyền liên Quận 2 - 4 (nay là Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh).
Trong trận đánh ác liệt ngày 5/5/1968, Sáu Xuân dũng cảm, mưu trí chỉ huy đồng đội chiến đấu, cầm cự với địch trong nhiều giờ và đã anh dũng hy sinh. Đến ngày 20/9/2024, nỗ lực ấy đã được đền đáp khi Chủ tịch nước ký Quyết định số 934/QĐ-CTN truy tặng danh hiệu “Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân” cho liệt sĩ Lê Thị Bạch Cát.
Bên cạnh đó, khắc ghi những tháng ngày gian khổ trong mưa bom, bão đạn nhưng ấm áp nghĩa tình ở Trường Sơn, nhà giáo Hoàng Tư Hậu đã dày công cùng với những thành viên nòng cốt của Ban Liên lạc các nhà giáo đi B như Chu Cấp, Ngô Đức Tiến… biên soạn; đồng thời phối hợp với Sở GD&ĐT Nghệ An, Hội Cựu giáo chức xuất bản cuốn sách "Nhà giáo đi B một thời để nhớ”, tái bản bổ sung năm 2021, từng được Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An công nhận và khen thưởng các công trình sáng tạo KH&CN. Cuốn sách là tư liệu quý về đóng góp thầm lặng của đội ngũ nhà giáo - chiến sĩ trong kháng chiến.





Luôn giữ đức khiêm nhường, không nói nhiều về bản thân nhưng từ Trường Sơn lửa đạn đến bục giảng thời bình, người thầy ấy đã trọn đời “cõng chữ”, âm thầm bền bỉ gieo mầm tri thức và nhân cách cho các thế hệ mai sau. Và trong sự nghiệp trồng người gần 40 năm của mình, nhà giáo Hoàng Tư Hậu luôn ghi nhớ và thực hiện lời căn dặn của Bác Hồ “yêu nghề bao nhiêu thì càng yêu học trò bấy nhiêu”.

Người thầy giỏi không chỉ “truyền dạy điều hay” mà còn “gieo mầm thiện”, giúp học trò biết sống trung thực, nhân ái, có khát vọng vươn lên, phụng sự Tổ quốc. Không chỉ là tấm gương sáng cho các thế hệ học trò, nhà giáo Hoàng Tư Hậu còn là người cha, người ông mẫu mực. Bởi vậy, con, cháu trong gia đình đều hiếu thuận, giữ gìn nề nếp, gia phong.
Tìm hiểu chúng tôi còn được biết, kỹ sư âm thanh Hoàng Thị Thu Thủy (giảng viên Khoa Công nghệ - Điện ảnh truyền hình, Trường Sân khấu Điện ảnh) - người chịu trách nhiệm giám sát âm thanh, dẫn mạch cảm xúc, góp phần tạo nên thành công của bộ phim nổi tiếng “Mưa đỏ" chính là con gái út của nhà giáo Hoàng Tư Hậu.
.png)
Hiện đã ở vào tuổi xưa nay hiếm, nhà giáo Hoàng Tư Hậu vẫn viết sách, làm thơ, chia sẻ kinh nghiệm dạy học và ghi lại những kỷ niệm, những ký ức về thời đi B trong lửa đạn. Với ông, nhớ lại quá khứ không phải để hoài niệm, mà để thêm trân trọng hiện tại.
“Nhớ lại một thời gian khó mà hào hùng để sống vui, sống khỏe với tuổi già, để phấn khởi, tự hào đất nước, quê hương đang ngày càng đổi mới, người dân có cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc hơn", nhà giáo Hoàng Tư Hậu bộc bạch.



