Ký ức rừng Lào
Trong những chuyến theo chân Đoàn/Đội quy tập hài cốt liệt sĩ giữa rừng Lào, cánh phóng viên chúng tôi như hóa thân, thành lính quy tập. Bởi từ vắt cơm ăn vội bên bờ suối, từ giấc ngủ giữa rừng mưa đến những cuộc hành quân đi tìm mộ xuyên rừng, chúng tôi đi không khác gì lính quy tập. Thậm chí, có lần giữa cánh rừng hoang vắng, chúng tôi phát hiện một vùng đất trũng nghi có mộ, giúp bộ đội quy tập tìm được một hài cốt liệt sĩ…
.png)
VŨ TOÀN
Trong những chuyến theo chân Đoàn/Đội quy tập hài cốt liệt sĩ giữa rừng Lào, cánh phóng viên chúng tôi như hóa thân, thành lính quy tập. Bởi từ vắt cơm ăn vội bên bờ suối, từ giấc ngủ giữa rừng mưa đến những cuộc hành quân đi tìm mộ xuyên rừng, chúng tôi đi không khác gì lính quy tập. Thậm chí, có lần giữa cánh rừng hoang vắng, chúng tôi phát hiện một vùng đất trũng nghi có mộ, giúp bộ đội quy tập tìm được một hài cốt liệt sĩ…






Một đêm khuya lạnh sương giữa mùa khô năm 2005, tại vùng rừng ven thị xã Phuôn Sa Vẳn, tỉnh Xiêng Khoảng (thượng Lào), chúng tôi dừng chân trong hậu cứ của Đoàn Quy tập hài cốt liệt sĩ thuộc Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Nghệ An.
Hồi đó, Thượng tá Hồ Trọng Bình, đoàn trưởng đón chúng tôi bằng những cái bắt tay ấm áp trong gió lạnh bay lẫn sương mù của rừng Lào. Chúng tôi mỏi mệt nhưng không một ai nghĩ chuyện ngủ, nghỉ thay vì những câu hỏi về những diễn tiến mới nhất của các mũi quy tập; những gian nan, vất vả trên những cung đường đi tìm hài cốt liệt sĩ; những khó khăn trong việc “săn lùng” thông tin và người dân chỉ mộ…
Thượng tá Bình hướng chúng tôi về phía tấm bản đồ đang phập phồng gió, treo nơi bức tường lớn nhất của hội trường hậu cứ. Tấm bản đồ hiện dòng chữ “Kế hoạch khảo sát quy tập mộ liệt sĩ, từ 1991”. Anh nói vừa đủ chúng tôi nghe: “Đoàn quy tập hài cốt liệt sĩ của tỉnh ta có từ tháng 7/1984. Đã 21 năm trôi qua, cán bộ, chiến sĩ quy tập đã tìm kiếm, cất bốc và đưa 10.000 hài cốt liệt sĩ về Nghĩa trang Quốc tế Việt - Lào. Hiện rừng Lào còn nhiều mộ. Nhiều mộ thì gian nan nhiều không kể xiết”.

Chúng tôi muốn biết về những dấu màu đỏ đang xoáy tròn chi chít trên cheo leo các bình độ của tấm bản đồ rộng đã cũ màu. Thượng tá Bình điều khiển chiếc bút chỉ bản đồ, thận trọng nói: “Đây là những địa bàn “nóng”, rất “nóng” mà anh em quy tập đã “nằm lòng” từng chi tiết từ vị trí địa lý, địa bàn, dân bản... Nóng có nghĩa là địa bàn vừa có nhiều mộ, vừa có nhiều địch rừng (tàn quân phỉ hoạt động trong rừng) xen lẫn địch ngầm (tàn quân phỉ hoạt động ngầm trong dân bản) quấy phá”. Bộ đội ta và bộ đội Lào đã có hy sinh là do đụng độ với hai dạng phỉ lúc ẩn, lúc hiện, vô cùng nguy hiểm này”. Thượng tá Bình lộ vẻ ái ngại khi chúng tôi nêu nguyện vọng được vào đến địa bàn Long Chẹng nơi có “thủ phủ” Vàng Pao khét tiếng một thời để tiếp xúc với mũi quy tập tại đây. Thượng tá Bình ngước nhìn địa bàn Long Chẹng trên đỉnh chóp dãy núi Phú Mộc, vẻ mặt căng thẳng: “Đường vào đến Long Chẹng xa hơn 100 cây số. Nguy hiểm lắm vì phỉ quấy phá suốt ngày đêm hòng ngăn việc tìm mộ của ta. Rất khó đi. Nếu không thực sự cần thiết thì không nên vào bây giờ”. Nhưng trước quyết tâm của chúng tôi, Thượng tá Bình bảo anh em vào “Nhà liệt sĩ” thắp hương, báo với vong linh các liệt sĩ công việc của mình rồi nghỉ ngơi chờ sáng, anh em đoàn quy tập sẽ tính.
Mờ sáng, chúng tôi thức dậy. Trước giờ ăn sáng, Thượng tá Bình dẫn chúng tôi vào “Nhà liệt sĩ” thắp hương như thường lệ một ngày mới. Bây giờ chúng tôi mới hình dung rõ, “Nhà liệt sĩ” chỉ rộng chừng 20m2, nằm cạnh phòng đoàn trưởng đoàn quy tập; nằm giữa 2 dãy nhà cấp 4 của hậu cứ. Trên bàn thờ hương thơm dịu nhẹ, đĩa trái cây đượm màu. Giữa gian nhà là chiếc hòm vuông khá rộng. Trong hòm là hài cốt các liệt sĩ vừa quy tập được, chờ cuối mùa khô đưa các anh về nước. Phủ kín mặt hòm là 2 lá cờ Tổ quốc Việt Nam và Lào song song, yên lặng. Thượng tá Bình cho hay, gọi là “Nhà liệt sĩ” hay “Nhà các anh” đều được. Vong linh các anh thiêng lắm. Tại đây, đơn vị chúng tôi thường có hai dạng báo cáo. Thứ nhất là báo cáo công việc và kết quả đã đạt được. Thứ hai là “báo cáo” cả khuyết điểm và cách khắc phục cụ thể để hướng tới mục tiêu cao cả nhất là dù khó khăn gian khổ cỡ nào cũng quyết chí, bằng mọi cách tìm được nhiều mộ các bác, các anh.
Hôm đó, Thượng úy Lê Hạp dáng mảnh và cao kều lái chiếc xe tải màu vàng chở chúng tôi đi trên con đường liên tục cua phải, rẽ trái hướng vào Long Chẹng. Tài xế Hạp cho hay, đây là tuyến đường độc đạo mà trước năm 1975 bộ đội ta tiến đánh Long Chẹng. Nay phỉ rình ác chiến lắm. Hơn 1 giờ sau, chúng tôi rời xe tải lên xe ôm đã được bố trí sẵn để đi tiếp. Đây là chặng đường rừng có quá nhiều “hịn tặng” (eo đá) hình xoắn ốc. Gần trưa, chúng tôi lại rời xe ôm, lên xe tải tiếp tục những cung đường bụi đỏ để tiếp cận chân núi Phú Mộc bao quanh “thủ phủ” Vàng Pao.



Những ngày ở Long Chẹng, chúng tôi theo chân mũi quy tập đi tìm hài cốt liệt sĩ. Có hôm đi xuyên rừng tre, Trung tá Nguyễn Văn Thành - mũi trưởng Long Chẹng kiêm đoàn phó đoàn quy tập bảo: “Từ một cây tre làm cáng cắm phía trước mộ liệt sĩ mà giờ trở thành một rừng tre”. Hết rừng tre qua rừng chuối, Trung tá Thành lại kể “sự tích” rừng chuối giống hệt “sự tích” rừng tre. “Đây là vùng trọng điểm, là “Điện Biên Phủ giữa rừng Lào” nên mũi chúng tôi tìm kiếm được rất nhiều hài cốt liệt sĩ theo sơ đồ đơn vị cũ để lại”.
Lúc quay trở ra hậu cứ, chúng tôi mới biết, để tạo cho chúng tôi chuyến đi trong “mạo hiểm”, đoàn quy tập đã trao đổi với các cơ quan chức năng của Lào tổ chức các tuyến bảo vệ trọng điểm, giữ an toàn cho chúng tôi. Cũng nhờ thế mà chúng tôi biết được sân bay quân sự Long Chẹng, trại lính phỉ, “thủ phủ” Vàng Pao. Căn nhà nửa nhà, nửa hầm ngầm bằng tường đá ngang dọc những ụ súng cối. Sân bay trực thăng trên nóc nhà Vàng Pao. Chúng tôi đã trò chuyện với ông Hủa Phăn - tài xế xịn của Vàng Pao, thường xuyên chở Vàng Pao đi thị sát trận địa sau mỗi trận đánh nên ông ta biết và chỉ cho bộ đội quy tập rất nhiều mộ liệt sĩ.
Rời mũi quy tập Long Chẹng, chúng tôi theo chân mũi Khệt Phằn của Trung tá Nguyễn Ngọc Lân. Cũng như Trung tá Thành, Trung tá Lân là mũi trưởng kiêm phó đoàn quy tập. Khệt Phằn cũng là mũi chủ công, đã tìm kiếm, quy tập được nhiều hài cốt liệt sĩ. Chuyến đi này, chúng tôi vào rừng Na Hổi là vùng rừng rất nhiều người đặt chân đến. Sau khi đã quy tập được 3 hài cốt, chúng tôi tiếp tục hành quân. Chợt chân tôi như trĩu nặng bên lối mòn có một ô đất trũng xuống. Tôi nói với Trung tá Lân, thử xăm ô đất này, tôi nghi có mộ. Trung tá Lân liền cho anh em dừng chân, cởi ba lô và xăm. Lát xẻng thứ nhất thấy đất mềm. Lát xẻng thứ hai đất tơi xốp. Lát xẻng thứ ba, thứ tư thì tất cả anh em trong mũi Khệt Phằn reo lên: “Có mộ. Có mộ rồi”. Đó là khi bàn tay người lính quy tập run run thắp lên nén nhang bên bàn tay vân vê nắm đất cát để lựa ra mấy cái cúc áo màu nâu, những mẩu xương ít ỏi đã mục và mẩu vải dù úa đỏ…


Năm 2018, chúng tôi trở lại rừng Lào chỉ vì một lý do của nghề nghiệp: “Mũi Long Chẹng sẽ quy tập 8 hài cốt liệt sĩ ngay trong một bản phỉ”. Trước một số lời can ngăn vì sợ gặp sự cố không lành, chúng tôi vẫn háo hức lên đường.
Lần ấy, từ hậu cứ mũi Long Chẹng, Trung tá Phạm Quang Tám - Chính trị viên kiêm chỉ huy mũi dẫn anh em quy tập đi thêm 20 cây số bằng xe Gaz 66 (xe kéo pháo của bộ đội, từng tham gia chiến dịch đánh Vàng Pao, năm 1966) đến suối Nậm Ngừm rồi “cắt” rừng lội suối thêm 2 giờ nữa. Biết trước, đây là chuyến đi mạo hiểm vào bản Tả Phà Nhang (bản cũ của Vàng Pao nay là bản không người nhưng là địa bàn hoạt động của phỉ) nên ngoài 20 cán bộ, chiến sĩ quy tập còn có tổ đặc công và bộ đội huyện Long Chẹng tăng cường. Bỗng ngã ba rừng mưa đổ như trút nước suốt 4 ngày đêm. Chúng tôi vừa canh mưa lẫn canh phỉ, vừa nóng lòng thấy mộ. Tọa độ 8 hài cốt liệt sĩ cỏ tốt lút đầu người, nay gặp mưa như càng tốt lút hơn. Tình thế không thể nằm chờ mưa và không thể tìm mộ giữa rừng cỏ mênh mông nên Trung tá Tám cho anh em tạm lui về.
Trên đường ra cửa rừng, chiếc Gaz66 cũ kỹ bò chậm hơn cả rùa trên những khúc cua vòng vo và cheo leo của rừng già. Xe cũ đến mức chết máy liên tục khiến tài xế phải buộc thêm một dây thép vào bàn đạp ga rồi điều thêm 2 chiến sĩ ngồi sau ca-bin (khoảng cách nối với thùng xe) để điều khiển dây thép này khi ga yếu nhưng cần về số mo. Cứ thế, chúng tôi đi trong nỗi nơm nớp hơn cả lo sợ đối mặt với sự rình rập của tàn quân phỉ. Lúc xe đang cố sức “cày” để leo lên đỉnh của rừng bỗng dây thép đứt. Chiếc Gaz 66 lùi xuống dốc. Tôi ngoái nhìn phía sau, một bên là ta luy dương, một bên là ta luy âm hun hút. Một số lính quy tập nhảy xuống phòng tai nạn. Riêng tôi và một số người khác đứng dậy nhìn hướng xe trôi lùi. Nếu xe trôi phía ta luy âm thì tôi sẽ nhảy xuống đường. Rất may, chiếc Gaz66 trôi sát ta luy dương rồi nằm lại.
Chúng tôi chợt nghĩ, “có lẽ vong linh các liệt sĩ giúp đoàn chúng tôi thoát chết trên đỉnh cửa rừng này chăng”.





