Lúa Hè Thu lép hạt trên diện rộng và bài học thích ứng với biến đổi khí hậu
Vụ lúa Hè Thu năm nay, sản lượng và thu nhập của bà con nông dân tại nhiều địa phương đã bị ảnh hưởng nặng nề khi hơn 6.000 ha lúa rơi vào cảnh lép, lửng hạt. Để rút ra bài học kinh nghiệm và tìm giải pháp hiệu quả cho những vụ sản xuất tiếp theo, phóng viên Báo và phát thanh, truyền hình Nghệ An đã có cuộc trao đổi với ông Phan Duy Hải - Phó Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh.
Vụ sản xuất đầy thách thức
PV: Thưa ông, việc hơn 6.000 ha lúa Hè Thu bị lép hạt đã ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và thu nhập của bà con. Từ góc độ ngành chuyên môn, khi nhìn lại một vụ sản xuất bộc lộ nhiều thách thức từ thời tiết đến hạn chế trong canh tác, ông có đánh giá về vấn đề này như thế nào?
Ông Phan Duy Hải: Trước hết, phải khẳng định rằng, vụ Hè Thu năm nay là một vụ sản xuất hết sức khó khăn. Toàn tỉnh gieo trồng trên 68.000 ha, trong đó riêng lúa Hè Thu hơn 48.000 ha. Đầu vụ, cây lúa sinh trưởng rất tốt, đẻ nhánh khỏe, nguồn nước cơ bản đảm bảo. Tuy nhiên, đến thời điểm thu hoạch, toàn tỉnh đã ghi nhận trên 6.000 ha lúa bị lép, lửng hạt nặng với tỷ lệ thiệt hại từ 30% đến trên 70%.
.jpg)
Tình trạng này tập trung chủ yếu ở trà lúa trổ sớm trước ngày 1/8, tại các xã: Hợp Minh, Quan Thành, Vân Tụ, Giai Lạc, Bình Minh, Phúc Lộc, Văn Kiều... Mức độ thiệt hại nặng nề đến mức, tại một số nơi như: Hợp tác xã Nam Yên (xã Quỳnh Anh) có tới 135 ha mất trắng, bà con không thu hoạch vì chi phí máy gặt cao hơn tiền bán thóc.
Tại xã Phúc Lộc hay Bình Minh, nhiều hộ dân thu hoạch 4 sào lúa cũng chỉ được vài trăm kg thóc lép, thu nhập không đủ bù một nửa chi phí phân bón, giống, thuê máy gặt đã bỏ ra, chưa tính công sức gieo cấy, chăm bón hàng tháng trời trên đồng ruộng.

Nhận diện rõ nguyên nhân
PV: Nhiều nông dân lo ngại nguyên nhân là do chất lượng giống lúa. Vậy đánh giá của ngành chuyên môn thì sao, thưa ông?
Ông Phan Duy Hải: Qua kiểm tra thực tế, nguyên nhân do giống được loại trừ. Hiện tượng lép hạt xảy ra trên đại trà hầu hết các giống lúa được cơ cấu. Mặc dù các giống trổ sớm như Khang Dân 18 có diện tích thiệt hại nhiều hơn, nhưng đó là do thời điểm trổ của các giống này vô tình trùng đúng vào "điểm rơi" của thời tiết cực đoan, chứ không phải bản thân bộ giống bị lỗi.

PV: Để có giải pháp đúng, trước hết chúng ta cần chỉ ra được đúng nguyên nhân gây nên tình trạng này. Vậy những yếu tố nào đã tác động trực tiếp dẫn đến hiện tượng lúa lép hạt diện rộng năm nay?
Ông Phan Duy Hải: Qua rà soát, ngành Nông nghiệp xác định nguyên nhân đến từ cả yếu tố thiên nhiên bất lợi và một số hạn chế trong khâu canh tác.
Về khách quan, cây lúa Hè Thu năm nay chịu sự tác động kép của hai hình thái thời tiết cực đoan đúng giai đoạn nhạy cảm nhất là làm đòng, trổ bông và ngậm sữa. Vào giữa tháng 7, thời điểm lúa ôm đòng, nắng nóng gay gắt kết hợp gió phơn Tây Nam thổi mạnh khiến ẩm độ không khí xuống rất thấp (chỉ 41 - 52%), làm khô hạt phấn và giảm khả năng thụ phấn. Ngay sau đó, từ ngày 25/7 đến 10/8, khi lúa trổ bông phơi màu thì lại gặp mưa dầm kéo dài, lượng mưa cao hơn trung bình nhiều năm từ 50 - 80%, rửa trôi hạt phấn khiến bông lúa không thể thụ phấn.
Thời tiết nóng ẩm thất thường cũng tạo điều kiện cho các sinh vật gây hại bùng phát mạnh như vi khuẩn, nấm, nhện gié, sâu đục thân và bệnh lem lép hạt. Hạt lúa dù được thụ phấn thì nhện gié chích hút, nấm bệnh, vi khuẩn tấn công làm vỏ trấu thâm đen, xanh hoặc vàng ố, làm cho những hạt lúa được thụ phấn cũng lép, lửng, thậm chí bên trong rỗng ruột (lép hoàn toàn).

Đặc biệt, biến đổi khí hậu với các tác động tiêu cực đã làm các loại dịch hại trước đây vốn chỉ thuộc thứ yếu, gây hại cục bộ trên diện hẹp như nhện gié,… trở thành dịch hại chủ yếu, bùng phát trên diện rộng, gây hại ở nhiều nơi. Cùng với sâu đục thân, đây là một trong những đối tượng không thể phòng trừ hiệu quả nếu không tuân thủ nghiêm chặt quy chuẩn, các quy định, khuyến cáo của cơ quan chuyên môn.
Thực tế cho thấy, do nhện gié có kích thước rất nhỏ, khó nhìn thấy bằng mắt thường nên bà con thường chủ quan, chỉ đến khi lúa xuất hiện vết bệnh mới bắt đầu phun trừ. Trong khi đó, đối với sâu đục thân, việc phun thuốc chỉ đạt hiệu quả khi phát hiện ở giai đoạn trứng mới nở; một khi sâu đã chui vào bên trong thân làm chết dãnh, bông bạc thì việc phun phòng trừ gần như không còn tác dụng.
Để hạn chế tối đa rủi ro cho sản xuất, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh đã chủ động lường trước nguy cơ và xây dựng phương án ứng phó từ sớm. Cụ thể, trong tháng 7/2026, chúng tôi đã liên tiếp ban hành 2 văn bản chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương phòng trừ các đối tượng dịch hại nguy hiểm như sâu đục thân, sâu cuốn lá nhỏ, nhện gié và bệnh lem lép hạt, đồng thời đẩy mạnh tập huấn kỹ thuật. Dù vậy, do tâm lý lơ là ở một bộ phận nông dân, khâu chủ động kiểm tra đồng ruộng và phun phòng sâu bệnh tại một số nơi vẫn chưa thực sự kịp thời.
Về chủ quan, do giá vật tư nông nghiệp tăng cao, việc đầu tư chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh của một bộ phận nông dân bị hạn chế. Tư tưởng "làm cho có" để giữ ruộng khiến hệ thống mương tưới tiêu ở một số vùng không được tu bổ, nạo vét đồng bộ, khả năng dẫn nước hạn chế, gây thiếu nước cục bộ giai đoạn lúa làm đòng. Thêm vào đó, thói quen tự để thóc thịt làm giống gieo cấy qua nhiều vụ ở một số nơi đã làm giảm sức đề kháng của cây lúa.

Bài học kinh nghiệm và giải pháp bền vững cho các vụ sản xuất sau
PV: Từ thực tế thiệt hại của vụ Hè Thu 2026, ngành Nông nghiệp rút ra bài học kinh nghiệm gì và có giải pháp căn cơ nào cho các vụ mùa tiếp theo, thưa ông?
Ông Phan Duy Hải: Bài học lớn nhất rút ra là sản xuất nông nghiệp không thể mãi trông chờ vào "mưa thuận gió hòa", mà phải chủ động chuyển từ ứng phó thụ động sang thích ứng linh hoạt với biến đổi khí hậu.
Về giải pháp căn cơ và lâu dài cho các vụ hè thu tiếp theo, ngành chuyên môn tập trung vào 4 nhóm giải pháp chính:
Thứ nhất là siết chặt lịch thời vụ. Phương châm "càng sớm càng tốt" phải được quán triệt nghiêm túc. Các vùng thấp trũng bắt buộc phải gieo cấy sớm để thu hoạch trước ngày 30/8 nhằm né hoàn toàn đợt mưa lũ và thời tiết bất lợi cuối vụ. Vùng vàn (trũng, thấp) thu hoạch trước 25/9 và vùng vàn cao (cao ráo hơn) hoàn thành sau thời gian này.
Thứ hai là cơ cấu lại bộ giống và quy trình thâm canh. Ngành sẽ rà soát, đưa vào cơ cấu các giống lúa có khả năng chịu nhiệt, chịu hạn và chống chịu sâu bệnh tốt hơn. Đặc biệt, bà con tuyệt đối không sử dụng thóc thịt làm giống, đồng thời áp dụng quy trình bón phân cân đối, tưới nước hợp lý. Đặc biệt là ưu tiên bón đủ lượng phân hữu cơ cân đối với phân vô cơ (hóa học) để tăng sức đề kháng cho cây lúa.

Thứ ba là nâng cao năng lực dự báo và quản lý dịch hại. Chi cục sẽ tăng cường các đợt tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật tận cơ sở, giúp người dân nhận biết sớm các đối tượng gây hại như nhện gié, lem lép hạt để chủ động phun phòng đúng thời điểm "vàng".
Thứ tư là mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Tại những vùng vàn cao (cao ráo hơn) cằn cỗi, khó khăn về nước tưới hoặc thường xuyên chịu rủi ro mất mùa, các địa phương cần kiên quyết vận động nhân dân chuyển đổi sang trồng các loại cây màu ngắn ngày, cây thức ăn chăn nuôi có hiệu quả kinh tế cao và an toàn hơn.
PV: Xin cảm ơn ông về cuộc trao đổi này!


