Kinh tế

Mát ngọt chè đâm, đậm vị bản mường

Khánh Ly - Thanh Phúc • 04/10/2026 08:19

Từ những lá chè xanh hái lúc tinh sương, người Thái ở khu vực huyện Quỳ Hợp (cũ) đã tạo nên thứ nước có màu xanh ngọc, chát dịu, ngọt hậu: Chè đâm. Qua bao thế hệ, bát chè đâm mộc mạc mang hương vị núi đồi không chỉ hiện diện trong mỗi nếp nhà, trên bàn nước đãi khách mà còn trở thành một nét văn hoá lưu giữ hương vị quê hương, nếp sống và tình người nơi bản mường miền Tây xứ Nghệ.

cover-chedam(2)-09931bd1d4ae4b3c7432273fcb8890fa.png

Khánh Ly - Thanh Phúc / Trình bày: Hồng Toại • 3/10/2026

*****

Từ những lá chè xanh hái lúc tinh sương, người Thái ở khu vực huyện Quỳ Hợp (cũ) đã tạo nên thứ nước có màu xanh ngọc, chát dịu, ngọt hậu: Chè đâm. Qua bao thế hệ, bát chè đâm mộc mạc mang hương vị núi đồi không chỉ hiện diện trong mỗi nếp nhà, trên bàn nước đãi khách mà còn trở thành một nét văn hóa lưu giữ hương vị quê hương, nếp sống và tình người nơi bản mường miền Tây xứ Nghệ.

titphu1(1).png

Sáng sớm, khi những giọt sương còn đọng trên lá, bà Vi Thị Minh (60 tuổi), ở xóm Đại Cường, xã Mường Ham, lại ra vườn hái những nhánh chè tươi đem về làm chè đâm. Công việc ấy đã thành thói quen từ bao năm nay, như một phần nhịp sống quen thuộc của gia đình người Thái nơi đây.

Bà Minh bảo, từ khi còn nhỏ, bà đã được mẹ và bà ngoại chỉ cho cách làm chè đâm. Ngày trước, hầu như gia đình nào trong xóm cũng có một chiếc ống mét, chiếc chày gỗ và huột - dụng cụ dùng để đâm, lọc chè. Mỗi khi nhà có khách, chẳng cần cầu kỳ mâm cao cỗ đầy, chủ nhà chỉ cần rót ra những bát chè xanh mát là câu chuyện đã có thể bắt đầu.

Bà Vi Thị Minh xóm Đại Cường, xã Mường Ham giã chè đâm. Ảnh KL
Bà Vi Thị Minh ở xóm Đại Cường, xã Mường Ham giã chè đâm. Ảnh: K.L

Để có bát chè đâm ngon, khâu chọn nguyên liệu rất quan trọng. Những nhánh chè phải là chè bản địa lâu năm, lá dày, xanh, vừa độ, không quá già, không quá non. Cây được trồng ở nơi thoáng, nhiều nắng và không sử dụng phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật. Chè sau khi hái về được rửa sạch, nhẹ tay để lá không bị dập.

Cành và lá chè sau đó được cho vào cối làm từ ống mét già, cối gỗ hoặc cối đá. Người làm dùng chày gỗ đâm, giã đều tay cho đến khi lá chè nhuyễn, tiết ra thứ nước cốt xanh đậm. Một ít nước sạch, tốt nhất là nước mưa hoặc nước suối trong đã đun sôi để nguội, được thêm vào cối. Hỗn hợp tiếp tục được đâm, giã rồi lóng qua rây, lấy nước, bỏ bã.

Nghe qua tưởng đơn giản, nhưng để có bát chè xanh trong, màu đẹp, vị thơm lại cần sự khéo léo. Chày phải giã nhanh, dứt khoát, đều tay. Người chưa quen việc dễ làm lá chè văng khỏi cối hoặc nước bắn tung tóe.

Chè đâm được đồng bào Thái dùng để tiếp khách quý. Ảnh TP
Chè đâm được đồng bào Thái dùng để tiếp khách quý. Ảnh: T.P

“Chè đâm uống nóng hay lạnh đều được, nhưng uống lạnh thì ngon hơn, nhất là những ngày nắng nóng. Một bát chè mát lạnh, vị chát dịu rồi ngọt dần nơi đầu lưỡi, uống xong thấy người nhẹ nhõm”, bà Minh vừa nói vừa rót những bát chè mới giã mời khách.

Nước chè xanh ngọc nổi bật trên nền bát sứ trắng. Nhấp một ngụm, vị chát nhẹ lan ra rồi chuyển dần thành vị ngọt mát, phía sau là hương thơm dìu dịu của những lá chè đồi.

Bà Sầm Thị Nhất, ở xóm Đại Cường, cũng là người nhiều năm gắn bó với cây chè, kể rằng trước đây gia đình có cả một vườn chè rộng. Chè vừa để uống hàng ngày, vừa chia sẻ cho bà con trong bản. Sau này gia đình làm nhà, chuyển đổi cây trồng nên phần lớn diện tích chè bị phá bỏ. Bà vẫn giữ lại 5 hàng chè để có nguyên liệu làm chè đâm.

Bà Sầm Thị Nhất ở xóm Đại Cường cắt chè về làm chè đâm. Ảnh TP
Bà Sầm Thị Nhất ở xóm Đại Cường cắt chè về làm chè đâm. Ảnh: T.P

“Nhà nào cũng vậy, dù không còn trồng nhiều thì cũng cố giữ lại vài luống chè trong vườn. Có chè là có nước uống, có khách đến nhà thì có thứ để mời”, bà Nhất nói.

Theo bà Nhất, chè dùng làm chè đâm phải là loại vừa độ, không quá già cũng không quá non. Chè già cho màu nước thẫm, chè non lại không đủ độ thơm. Những lá chè giòn, tươi sau khi rửa sạch được để ráo rồi đưa vào cối giã nhuyễn.

Bà Sầm Thị Nhất và Vi Thị Minh xóm Đại Cường chuẩn bị các công đoạn để làm chè đâm. Ảnh TP
Bà Sầm Thị Nhất và bà Vi Thị Minh ở xóm Đại Cường chuẩn bị các công đoạn để làm chè đâm. Ảnh: T.P

Ngày nay, máy xay sinh tố có thể giúp rút ngắn công đoạn, nhưng với những người sành chè đâm, chiếc cối và chày gỗ vẫn có cái lý riêng.

“

Xay bằng máy thì nhanh nhưng nước chè không thơm và ngon bằng đâm bằng chày”.

Bà Nhất chia sẻ

Bà Lương Thị Xanh, bếp trưởng Homestay Nhà Sam ở xóm Đại Cường cho biết, chè đâm gắn với đời sống của người Thái từ lâu. Từ thuở trước, khi cuộc sống còn gần với núi rừng, người dân thường hái lá cây, vỏ cây đem giã, nấu nước uống. Khi cây chè xanh trở nên quen thuộc, người dân dùng lá chè để đâm, giã lấy nước, dần tạo nên thức uống mang nét riêng của cộng đồng.

Xứ Nghệ có nhiều vùng trồng chè xanh, nhưng cách uống chè bằng phương pháp đâm, giã lọc lấy nước như ở vùng Quỳ Hợp cũ vẫn tạo nên một dấu ấn riêng. Trong đó, chè ở xóm Thái Học, nay thuộc xã Mường Ham, được nhiều người đánh giá có hương vị đặc biệt.

Xóm trưởng Vi Văn Kiên (SN 1984) cho biết, xóm Thái Học hiện có khoảng 320 hộ. Trước đây, cây chè được trồng khá nhiều, nhưng những năm gần đây người dân chuyển sang trồng keo khiến diện tích chè thu hẹp, chỉ còn hơn 1 ha. Dẫu vậy, hầu như gia đình nào cũng giữ lại vài luống chè trong vườn.

Sáng sớm hay những buổi chiều rảnh rỗi, người dân lại quây quần bên bát chè đâm, chuyện trò sau một ngày lao động. Người trong bản đến chơi được mời chè. Khách phương xa ghé thăm cũng được chủ nhà rót cho một bát, đôi khi còn tặng vài chai mang về.

Một thức uống bình dị cứ thế đi vào đời sống, trở thành cách người dân trao nhau sự hiếu khách.

titphu2.png

Điều khiến chè đâm được nhớ đến không chỉ là màu xanh ngọc đẹp mắt hay vị chát dịu, thơm nồng mà còn ở cái ngọt hậu rất riêng. Uống một ngụm, vị chè không ập đến mà thong thả lan trong miệng, để rồi cái mát lành ở lại.

Chè tươi sau khi hái được rửa sạch, để ráo nước cho vào cối để đâm
Chè tươi sau khi hái được rửa sạch, để ráo nước cho vào cối để đâm. Ảnh: K.L

Theo kinh nghiệm dân gian, chè đâm thường được người dân dùng để giải khát, nhất là những ngày nắng nóng. Có người buổi sáng uống vài bát trước khi bắt đầu công việc; có người sau một ngày lao động lại pha thêm chút mật mía hoặc mật ong để thưởng thức. Nhưng với những người yêu chè, nguyên chất vẫn là cách uống được ưa chuộng nhất, bởi khi ấy hương vị của lá chè được giữ trọn vẹn.

Bà Lương Thị Xanh cho biết, chè sau khi hái nên sử dụng trong ngày. Để qua đêm, hương vị sẽ giảm đi đáng kể. Cách thưởng thức cũng góp phần tạo nên cái thú của chè đâm. Một bát sứ, bát gốm nhỏ khiến màu xanh của nước chè nổi bật, vừa đẹp mắt vừa gợi cảm giác gần gũi, mộc mạc.

Từ thức uống quen thuộc trong mỗi gia đình, chè đâm nay đã được đưa vào thực đơn ẩm thực Thái để phục vụ du khách đến trải nghiệm du lịch cộng đồng. Du khách không chỉ được thưởng thức mà còn có thể tự tay hái chè, rửa lá, đâm chè, lọc nước rồi mang những chai chè xanh mát về làm quà.

af2dddd2-26d6-4108-b91d-31ad88814a5f.png
Chè đâm là món đặc sản nổi tiếng của đồng bào Thái. Ảnh: P.V

Chè đâm cũng bước ra khỏi những căn bếp bản mường để đến với các quán nước quanh hồ Thung Mây. Dọc con đường ven hồ, không khó để bắt gặp những quán bán thứ nước chè xanh ngọc đặc trưng này. Bên chiếc bàn gỗ, người ta nhẩn nha từng ngụm chè, trò chuyện và ngắm mặt hồ.

Bận rộn hơn, khách có thể gọi chè mang về. Mỗi chai chè đâm có giá khoảng 10.000-15.000 đồng, vừa là thức uống giải khát, vừa trở thành một sản phẩm nhỏ góp thêm thu nhập cho người dân.

Chị Phan Thị Giang, quê ở vùng biển thuộc Quỳnh Lưu (cũ), lên công tác và sinh sống tại Quỳ Hợp đã gần 17 năm. Từ một người chưa từng biết chè đâm, chị dần trở thành “người nghiện” thức uống này.

“

Uống chè đâm với kẹo lạc, cu đơ thì ngon không gì sánh bằng. Vị ngọt của đường mía, vị cay nồng của gừng trong kẹo hòa với vị chát thanh của chè, nhâm nhi từng chút mới cảm nhận hết được cái ngon”.

Chị Phan Thị Giang chia sẻ

Chè đâm theo chân những người con Thái rời quê, có mặt ở nhiều thành phố. Cuộc sống hiện đại mang đến ngày càng nhiều loại đồ uống mới, nhưng trong ký ức của những người xa quê, một bát chè xanh ngọc vẫn có sức níu kéo rất riêng. Bởi đó không chỉ là vị của lá chè hái trên triền đồi.

Những lúc rảnh rỗi, chị em đồng bào Thái thường sum vầy cùng làm chè đâm. Ảnh tư liệu Thu Hương
Những lúc rảnh rỗi, chị em đồng bào Thái thường sum vầy cùng làm chè đâm. Ảnh tư liệu: Thu Hương

Đó còn là vị của một buổi sáng tinh sương, của chiếc cối gỗ và nhịp chày đều tay; là bát chè chủ nhà rót mời khách, là những câu chuyện bên hiên nhà, là những buổi chiều người dân trong các thôn bản quây quần bên nhau.

Và có lẽ, chính từ những điều bình dị ấy, chè đâm đã vượt khỏi một thức uống giải khát để trở thành một phần ký ức, một nét văn hóa trong đời sống của đồng bào dân tộc Thái ở vùng Quỳ Hợp (cũ).

0 0 0
Mát ngọt chè đâm, đậm vị bản mường
Google News
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO