Nâng cao giá trị, tạo sinh kế bền vững từ cây nghệ
Từng được đưa về thay thế những cây trồng hiệu quả thấp, nghệ đã trở thành cây hàng hóa ở xã Văn Kiều, nhưng rồi diện tích bị thu hẹp khi thị trường biến động. Nay địa phương đang tìm cách khôi phục cây nghệ theo hướng tổ chức lại sản xuất, nâng chất lượng chế biến, xây dựng thương hiệu và kết nối thị trường, nâng cao giá trị sản phẩm trên chính quê hương.
Một thời "vàng son"

Thời điểm này, những vườn đồi ở xóm 14, xã Văn Kiều phủ một màu xanh của nghệ. Sau những trận mưa đầu mùa, nghệ lên nhanh, xanh tốt. Trong khu vườn gần 1 mẫu, ông Nguyễn Hữu Đông (58 tuổi), vẫn cần mẫn với giống nghệ nếp địa phương đã gắn bó với gia đình hơn 20 năm. Với ông Đông, giá trị của cây nghệ không chỉ ở hiệu quả kinh tế, mà còn ở chỗ cây hợp đất, chịu hạn tốt, ít công chăm sóc, phù hợp với điều kiện gia đình chỉ còn hai vợ chồng ở nhà.
Một sào nghệ cho khoảng 1 tấn củ, bán tươi thu 10-12 triệu đồng; chế biến được 70-80 kg tinh nghệ, bán khoảng 300.000 đồng/kg. Gần 1 mẫu nghệ giúp gia đình ông Đông thu lợi khoảng 50-70 triệu đồng/năm. “Nghệ làng Kiều Mộc có đặc tính riêng, dược tính và hàm lượng tinh bột cao, được thị trường ưa chuộng”, ông nói. Cây hợp đất mỡ gà pha cát, chịu hạn, ít công chăm sóc nên phù hợp với vùng đồi.
Gia đình chị Nguyễn Thị Bé cũng duy trì 8 sào nghệ, mỗi năm thu khoảng 10 tấn củ, chế biến gần 800 kg tinh bột, doanh thu khoảng 150 triệu đồng. Mỗi vụ, cơ sở còn thuê 5-10 lao động thời vụ, với tiền công 400.000 đồng/sào.

Ông Nguyễn Trường Chung - Bí thư Chi bộ xóm 14, nguyên Chủ tịch Hội Nông dân xã Nghi Kiều (cũ) nhớ lại: “Cây nghệ từng là cây trồng chủ lực, truyền thống của địa phương từ hàng chục năm nay. Khi hưng thịnh, toàn xã có cả trăm héc-ta nghệ, hình thành cả nghề trồng và chế biến tinh bột nghệ”.
Theo ông Chung, khoảng 20 năm trước, một số hộ dân đưa cây nghệ về trồng thử nghiệm. Thấy cây hợp với thổ nhưỡng, khí hậu, cho năng suất cao, chất lượng tốt, nhiều gia đình mạnh dạn chuyển đổi những diện tích trồng cây hiệu quả thấp sang trồng nghệ. Diện tích ngày càng mở rộng, đến năm 2017, toàn xã có trên 100 ha, giá trị thu về khoảng 30 tỷ đồng.
.jpg)
Hai làng Tân Hợp và Kiều Mộc cũng được UBND tỉnh Nghệ An công nhận danh hiệu làng nghề sản xuất và chế biến tinh bột nghệ. Từ một cây trồng mới, nghệ dần trở thành cây hàng hóa, rồi hình thành nghề chế biến gắn với đời sống của nhiều gia đình.
Nhưng thời kỳ hưng thịnh ấy không kéo dài. Theo ông Chung, từ năm 2019-2025, nghệ trôi nổi trên thị trường được đưa về bán với giá rẻ, có thời điểm chỉ bằng khoảng 1/3 giá tinh bột nghệ Văn Kiều. Đáng lo hơn, có thương lái còn lấy “mác” nghệ Văn Kiều để bán sản phẩm từ nơi khác. Giá nghệ giảm, uy tín sản phẩm bị ảnh hưởng, người dân dần chán nản, phá bỏ diện tích nghệ để chuyển sang trồng khoai từ, sắn, chè.
.jpg)
Sự thu hẹp ấy thể hiện rõ qua những con số. Từ hơn 100 ha nghệ khi làng nghề phát triển mạnh, nay diện tích trồng nghệ của làng nghề chỉ còn gần 15 ha. Nghề chưa mất hẳn, nhưng quy mô đã giảm đáng kể so với thời kỳ hưng thịnh. Đáng lưu ý, những hộ còn giữ nghề như ông Đông, chị Bé chính là những người duy trì được cả khâu trồng và chế biến, giữ lại kinh nghiệm sản xuất và nghề truyền thống trong những năm cây nghệ gặp khó.
Tổ chức sản xuất, xây dựng chuỗi giá trị

Sau sáp nhập, xã Văn Kiều không đặt mục tiêu đưa cây nghệ trở lại quy mô hơn 100 ha như trước mà hướng tới xây dựng vùng nguyên liệu có tổ chức, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ. Đây là cơ sở để xã xây dựng Đề án phát triển sản xuất và chế biến nghệ, nhằm khắc phục những điểm yếu từng khiến cây nghệ mất giá: Sản xuất nhỏ lẻ, chế biến thủ công, thiếu liên kết và chưa có thương hiệu đủ sức bảo vệ sản phẩm.
Theo đề án, đến năm 2027, xã Văn Kiều duy trì và mở rộng vùng nguyên liệu lên 15-20 ha, ít nhất 70% số hộ sản xuất tham gia liên kết, hình thành 2-3 tổ hợp tác hoạt động hiệu quả. Đến năm 2030, vùng nguyên liệu ổn định trên 20 ha, tỷ lệ hộ tham gia liên kết đạt từ 90%, từng bước hình thành chuỗi từ trồng, thu mua, chế biến đến tiêu thụ.

Với chính quyền địa phương, đây không chỉ là câu chuyện vận động người dân trồng thêm nghệ. UBND xã được xác định là đầu mối tổ chức thực hiện đề án, kết nối các nguồn lực về khuyến nông, khoa học - công nghệ, OCOP, môi trường; đồng thời, hỗ trợ xây dựng logo, bao bì, nhãn mác, tem truy xuất nguồn gốc và đăng ký nhãn hiệu tập thể cho sản phẩm nghệ Văn Kiều.
Chủ tịch UBND xã Trần Văn Sao cho biết, địa phương xác định khôi phục cây nghệ phải đi cùng tổ chức lại sản xuất, trước hết là tập hợp những hộ còn giữ nghề để xây dựng vùng nguyên liệu, hình thành tổ hợp tác và từng bước kết nối với doanh nghiệp. Xã sẽ tạo điều kiện để người dân tiếp cận kỹ thuật, nâng cấp chế biến, xây dựng thương hiệu và tìm kiếm đầu ra. Mục tiêu là để người trồng có thể yên tâm đầu tư lâu dài, thay vì sản xuất rồi phụ thuộc hoàn toàn vào thương lái và giá cả từng thời điểm.

Nếu chính quyền tạo khung liên kết, thì hội nông dân là lực lượng trực tiếp đi cùng hội viên. Theo đề án, hội nông dân xã là cơ quan thường trực ban chỉ đạo, có nhiệm vụ tuyên truyền, vận động hội viên tham gia, phối hợp tập huấn kỹ thuật, xây dựng mô hình và hỗ trợ phát triển kinh tế hộ.
Chủ tịch Hội Nông dân xã Phạm Ngọc An cho biết, hội sẽ tập trung vận động những hộ còn sản xuất nghệ làm hạt nhân, từ đó mở rộng số hộ tham gia vùng nguyên liệu; đồng thời hỗ trợ hội viên về kỹ thuật, cách tổ chức sản xuất và liên kết tiêu thụ. Theo ông An, muốn người dân quay lại với cây nghệ thì trước hết phải cho họ thấy hiệu quả kinh tế và một đầu ra ổn định, để hội viên yên tâm đầu tư chứ không trồng theo phong trào.
Hiện xã Văn Kiều còn hơn 130 hộ tham gia trồng và chế biến nghệ, với diện tích gần 15 ha. Đây chính là lực lượng có thể đặt nền móng cho vùng nguyên liệu mới, bởi họ còn giữ được giống nghệ địa phương, kinh nghiệm trồng và kỹ thuật chế biến. Từ những hộ này, địa phương có điều kiện hình thành các nhóm liên kết thay vì phải bắt đầu lại từ con số không.

Khâu chế biến được xem là một trong những điểm phải thay đổi rõ nhất. Nếu trước đây phần lớn các hộ tự làm theo kinh nghiệm gia đình, thì đề án hướng tới đưa máy móc, thiết bị vào những công đoạn chủ yếu để nâng năng suất và ổn định chất lượng. Đến năm 2027, ít nhất 60% sản phẩm được chế biến bằng máy móc, thiết bị bán tự động; sản phẩm tinh bột nghệ phấn đấu đạt OCOP từ 3 sao trở lên, sau đó từng bước nâng hạng và phát triển thêm các sản phẩm chế biến sâu.
.jpg)
Cùng với chế biến là xây dựng thương hiệu để tránh lặp lại câu chuyện nghệ trôi nổi từng làm ảnh hưởng đến uy tín sản phẩm địa phương. Từ logo, bao bì, nhãn mác đến truy xuất nguồn gốc, sản phẩm phải có khả năng nhận diện và chứng minh được nguồn gốc. Khi đó, “nghệ Văn Kiều” không chỉ là tên gọi quen thuộc của một vùng quê, mà trở thành dấu hiệu nhận biết cho một sản phẩm có chất lượng và quy trình sản xuất rõ ràng.

Đến năm 2030, đề án đặt mục tiêu thu nhập bình quân từ sản xuất nghệ đạt khoảng 150 triệu đồng/ha/năm. Con số này cho thấy đích đến của việc khôi phục không nằm ở việc có thêm bao nhiêu héc-ta nghệ, mà ở giá trị thu được trên mỗi diện tích và khả năng giữ giá trị ấy lại cho người trồng, người chế biến và làng nghề.
Để đề án đi vào thực tế, cấp ủy, chính quyền xã khảo sát, lắng nghe cơ sở và triển khai các giải pháp kích cầu sản xuất, trong đó, hỗ trợ 200.000 đồng/500m² nghệ trồng ngoài đồng. Hội Nông dân xã phối hợp tập huấn an toàn thực phẩm, bảo quản, chế biến, từng bước chuyển sản xuất từ thủ công, nhỏ lẻ sang khoa học, an toàn. Mục tiêu cuối cùng là nâng giá trị sản phẩm, tạo việc làm, tăng thu nhập và giữ thương hiệu nghệ Văn Kiều.


