Người già ngộ thiệt
Truyện ngắn của Chế Đình Cường

Truyện ngắn của Chế Đình Cường
Việt bực bội bước về hướng cổng. Cậu băng qua bên kia con đường đất đỏ, đứng ở mé sông, trước trung tâm bảo trợ người cao tuổi neo đơn của tỉnh. Gió xé lẻ từng cơn, bạt vào cậu, buốt mặt. Trong này, ông Ba Non đang ngồi thừ ra trên ghế đá. Câu nói trước đó của ông cứ bập bùng trong đầu Việt: Mấy đốt tre xa quá, làm sao mà uốn lồng đèn được. Hồi xưa đó nghen…
Sao ai lớn tuổi rồi cũng nói câu đó hết. Bỏ công kiếm, xin tre đã khó, còn kén cá chọn canh. Việt nghĩ vậy, lúc va phải cái nhăn mặt của ông Ba Non. Cậu bắt đầu thấy hối hận vì sự có mặt ở đây của mình. Phải chi ba Việt chịu tài trợ thêm ít tiền, cậu rất có thể đang cuộn mình trong bốn vách trọ ở Sài Gòn suốt mùa Hè năm thứ 2 đại học này.
***
Trung tâm thông báo Tết Trung thu năm nay sẽ thi văn nghệ. Bà Tư đập bàn cái bốp, cười rổn rảng bảo bả sẽ làm Hằng Nga: Thời Tư tới rồi bây ơi! Rồi ông Hai húng hoáy đẩy ông Ba Non lên đăng ký với Việt, tiết mục hát Thằng Cuội. Cả trung tâm, ai cũng biết ông Ba Non bồ bịch với… cây đờn guitar, chỉ còn bốn dây. Trong khi ông Hai mê dầm mưa chơi cát, ông Tám ghiền cờ tướng đến bỏ cơm. Nhe hàm răng đã đi chơi gần hết, ông Hai bồi thêm, nếu cần người vỗ tay mồi thì có ông Tám, chống gậy rồi, mà còn ngon lắm! Vừa nói, ông Hai vừa chỉ về hướng một ông già hói trán, đang lẻn ra khỏi hội trường. Bên này, bà Tư, bà Năm, thêm bà Sáu vừa đẩy xe lăn của bà Bảy đi lên. Cả nhóm định thi bài gì đó, có câu tùng-dinh-dinh-cắc-tùng-dinh-dinh. Mấy bà già múa hát hồ hởi. Hội trường bỗng huyên náo lạ thường. Vậy là thi! Từ giờ đến Rằm tháng Tám còn hơn 30 ngày chuẩn bị. Việt lãnh trách nhiệm mà miệng cười khổ.
Đêm, ở trung tâm, mùa nào cũng vậy. Gió sông quyện hương nguyệt quế, là đà vây kín các dãy phòng, càng làm đậm lên vẻ tĩnh lặng vốn dĩ của nó. Từ hôm đăng ký thi, ông Ba cũng ráng tập tành. Được một tuần, thấy không êm, nên đêm nào ông cũng trằn trọc. Ông thình lình đổi ý, muốn làm lồng đèn chim câu để thi. Việt nghĩ, đúng là người già, cứ y như thời tiết xứ này, sáng nắng, chiều mưa, tối lưa thưa gió.
Có hôm tìm không được tre, Việt ghé vô trung tâm ngồi chơi. Gặp lúc đội nữ tập văn nghệ xong, mọi người kéo nhau ra bộ bàn đá rụng đầy bông mận, nghe bà Năm tám chuyện về ông Ba. Có người đồn, thằng chả từng lên miệt Bảy Núi, tuốt An Giang, học pháp, cái tướng lòng khòng như người cõi nào. Hồi dịch Covid-19 mới ly kỳ. Nhà nước muốn đưa người vô gia cư vô đây, nên công an xã cử người tới Cầu Lợi kiếm thằng chả. Nhưng, dễ gì! Bữa thì thấy vạt giường đang cháy khét lẹt. Bữa thì thấy cái áo của chả nổi lều phều trên sông. Báo hại người ta phải dập lửa, phải hụp lặn cứu người. Mà có thấy ai? Rồi đến một hôm, người ta quyết ngồi lỳ trên bờ. Trăng lên đỉnh trời, thì chả tỉnh bơ đội bụi lục bình, từ sông đi lên. Ông công an hỏi bác Ba không lạnh sao. Chả run lập cập hỏi ngược công an mưa gió mắc chi đợi bền bỉ vậy. Người ta đợi thằng chả để đem về đây cho yên ổn tấm thân già mà thằng chả cắc cớ vậy đó.
Không để câu chuyện đứt mạch, bà Tư thêm vào. Chứ được mấy người có phước như bà Bảy với ông Tám? Có con cái phụng dưỡng, mà sợ tụi nó… khổ. Kêu, vô đây sướng hơn. Bà Năm lại tiếp tục kể chuyện bà Sáu “thờ tiền”. Bà Sáu cũng có phước. Con đưa vô viện dưỡng lão tư nhân, đóng tiền được mấy tháng, rồi bán nhà trốn biệt; rồi Nhà nước phải gom vô đây. Mà hễ nói động tới con bả, là bả binh chằm chặp. Thiệt ngộ!
Việt ngồi nghe, cũng gật gù. Ừ thì, người già ngộ thiệt!
***
Việt đã hết dạ chiều theo ý ông Ba. Nhưng, vì mấy đốt tre xa nhau quá, uốn lồng đèn sẽ gãy thiệt sao? Bây giờ, Việt kệ, ông muốn làm gì thì làm. Cậu đứng ở mé sông một lúc cho hạ hỏa, rồi trở vô trung tâm lấy xe đi về. Đến nhà, Việt tắt điện thoại vứt xó, suốt cả mấy ngày sau đó.
Ông Ba cũng ngồi như tượng một chút, rồi gom đống tre cất vào kho. Ông không giận Việt. Tâm trí ông đang bận nghĩ về cách làm cánh chim câu, sao cho giật lên giật xuống… như hồi xưa. “Chỉ anh hai mình nhớ!” - ông Ba nhìn con thằn lằn bò trên nóc mùng không chớp mắt. Đêm đã đi được nửa đường. Sau đó, ông bật dậy, với lấy cây đờn bên cạnh. Đoạn, ông kéo mền đắp lại cho ông Hai lúc đi ngang qua giường, rồi mới ra ngoài hiên hóng gió. Trời vừa mưa xong một trận đã đời.
Đã bốn ngày trôi qua, Việt cũng nguôi ngoai chuyện hôm đó. Điện thoại vừa được mở nguồn lại, thì cuộc gọi của ông Ba đến liền. Giọng ông cười phớ lớ hỏi Việt còn giận không. Lòng Việt chùng chình khó tả. Sáng hôm sau, Việt lên thẳng phòng Ban Giám đốc trung tâm. Lúc trở ra, cậu hộc tốc chở ông Ba qua cổng. Lạ ghê, nhóm bảo vệ thấy vậy, mà vẫn cứ ngồi điềm nhiên rung đùi. Mấy nhân viên nhà bếp chứng kiến cảnh đó cũng lao nhao.
Ngoặt gần chục con đường theo trí nhớ của ông Ba, cuối cùng Việt cũng đưa ông đến được nơi cần đến. Nhìn căn nhà thiệt lâu, rồi ông một mình bước vào trong đó. Ngay tức khắc, một chiếc dép tổ ong bay ra, suýt chút trúng Việt, đang đứng tựa xe bấm điện thoại ở ngoài sân. Ông Ba, mặt như con nít bị rầy, trở ra bảo Việt chở về.
Trên đường, Việt nhẩm ông đã thở dài gần chục cái. Có lúc, không nghe thấy gì. Những lúc đó, Việt thấy như có đá tảng đè lên lồng ngực mình. Đến cổng trung tâm, Việt nhìn ông thất thểu đi vào, bóng đổ dài trên sân. Mấy ngày sau đó, ông Ba chẳng bàn thêm gì với Việt nữa.
***
Một bữa, Việt lừng khừng trước căn nhà ba gian hai chái bằng gỗ sắp mục, đã đến hôm nọ. Cậu cố soạn lời để cất giọng thưa. Giờ đây, khi đến một mình, Việt mới để tâm nhìn kỹ mọi thứ. Sân đất, có chỗ nước đọng thành vũng, cỏ lún phún mọc. Bên trái bàn thờ thông thiên là một bụi tre óng, sải mình đánh đu với nắng trên cao. Nhưng sao tịch mịch quá! Nghe được cả tiếng lá rơi nghiêng. Ngửi thấy cả mùi trái chín ở khu vườn quanh đó.
Chợt, có tiếng vật gì rơi vỡ rất giòn ở bên trong. Ngay lập tức, Việt chạy vào. Thấy một ông cụ rên khẽ trên bộ ván ngựa. Xung quanh nào là các loại dầu nóng lớn nhỏ, vật dụng y tế, hai tô cháo, một ăn dở, một chưa rửa đã đóng khô, và la liệt gối mền bốc mùi nước tiểu. Hình như ông cụ vừa quơ đổ cái gì đó. Lúc cậu luồn tay qua lưng đỡ dậy, thì cụ kêu đau. Chắc do vết loét chỗ cùi chỏ bám chặt vào mặt chiếu. Thấy vậy, Việt liền sát trùng, tiếp nước cho cụ. Xong xuôi, Việt mới thưa rõ ngọn ngành về sự đường đột của mình.
Nghe xong lời cậu, ông cụ trầm ngâm. Cái thằng đó… Hồi xưa, tao làm lồng đèn cho nó thi chớ ai. Lớn lên, tự dưng nó coi thường gia phong lễ giáo. Cha hướng nghiệp, nó bỏ ngoài tai đã đành, còn mê con nhỏ bán vé hát tạp kỹ. Dại tình, nó tập tành hát hò, đàn ca. Ông cha từ mặt đuổi đi luôn. Bộ tạ lỗi, sửa mình khó lắm sao? Rồi ông cha chết, nó lấy danh nghĩa gì mà về đội tang. Biết cha được chôn trên ruộng nhà, gần Cầu Lợi, nên nó ở chỗ đó luôn. Hồi trước, nhà tao có chó. Bữa nào nghe chó sủa um, là biết nó lần khần chỗ mé rào, bụi tre, bụi chuối. Giờ… nó ở trong trại phải không?
Việt vừa bóp chân, vừa trả lời, đó là Trung tâm bảo trợ người già, rồi nhìn tấm hình chụp cả gia đình trên vách. Dường như hiểu ý, cụ ông phân trần mấy đứa nhỏ làm hết, trưa mới có đứa chạy về một chút, rồi đi tiếp.
Câu chuyện cứ xoáy lòng Việt suốt những ngày sau đó.
***
Đêm hội sắp gần kề thì ông Ba… bỏ trốn. Đúng là người già! Cả trung tâm chừng như loạn lên hết. Riêng đám bạn của ông chỉ biết nhìn nhau. Hoặc nhìn nhành cây ngọn cỏ. Ngơ ngác. Nặng lòng. Việt nói với mọi người, tuy không chắc nhưng cứ để cậu kiếm thử. Đến nơi dự đoán, Việt lại chứng kiến được một cảnh tượng khó quên.
Ông cụ hôm trước, đang bám tay con dâu, đi ra ngoài. Vài thanh niên đang hạ bụi tre, chỉ chừa lại mấy mụt măng trên đất, dưới sự chỉ đạo của một người đàn ông, chắc là con trai của cụ. Và kìa, ông Ba đứng lặng ngay giữa sân. Lát sau, ông Ba quỳ xuống, mặt hướng vô nhà, khoanh hai tay lại, như con nít hồi xưa. Ông có nói gì đó, nhưng Việt đứng ở bờ rào nên không nghe rõ được. Cậu chỉ thấy ông cụ kia đập đập vô vai ông Ba mấy cái, rồi họ nức nở ôm nhau.
Lần này, Việt đưa ông Ba trở lại trung tâm vất vả hơn lần trước, vì có thêm mấy cây tre…
***
Lúc đèn sân khấu rực sáng, Việt với mấy anh chị trong trung tâm cẩn thận dìu từng cụ đi ra. Tại bàn ban giám khảo, Giám đốc trung tâm, bình thường nghiêm nghị lắm, nay cứ toe toét cười hoài. Ghé tai cô làm bếp ngồi bên, ông bảo chấm loạng quạng, chắc lát khỏi về. Thấy ông đang vui, cô làm bếp nhỏ nhẹ hỏi vụ sao ông giám đốc để Việt chở ông Ba ra khỏi đây. Nhìn thật lâu vô cánh gà sân khấu, thấy Việt đang lúi húi chạy việc, ông nghẹn ngào: “Thì… con tui mà”!
Ông Ba ôm cây đờn đã thay bộ dây mới, tửng từng tưng dạo đầu bài “Thằng Cuội”. Hằng Nga quấn nào là màn cửa, mùng mền, rồi lả lướt ra múa may. Một lát sau, ông Tám trùm đầu lân, lọm khọm chống gậy từ dưới đi lên sân khấu. Theo sau là bà Năm làm Địa, tay quạt quạt, suýt rớt cái bụng giả ra sàn. Rồi, cả hội trường cùng nhau hòa giọng. Khi nhạc chuyển qua bài “Rước Đèn Tháng Tám”, Việt phụ với ông Hai, mang chiếc lồng đèn chim câu bằng giấy quyến đính gòn ra sân khấu. Trên mỗi cánh đều có dây buộc, nối với gậy cầm tay, nên có thể vỗ vỗ sinh động. Trong ánh sáng lung linh, Việt thấy anh trai của ông Ba, ngồi ở cuối hội trường. Vừa vẫy vẫy tay về phía em mình, cụ vừa mấp máy miệng theo câu hát: Tùng-dinh-dinh-cắc-tùng-dinh-dinh…


