Xã hội

“Nhân Huống thị bi” - một văn bia chợ quê trong khúc quanh lịch sử

Trần Mạnh Cường | Thiết kế: Hữu Quân 18/07/2026 14:45

Ngày 15/7/2026, Bảo tàng Nghệ An - Xô viết Nghệ Tĩnh tiếp nhận một hiện vật quý do gia đình bà Nguyễn Thị Loan xã Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, tự nguyện hiến tặng. Hiện vật là một tấm bia đá được gia đình gìn giữ nhiều năm trong khuôn viên lăng mộ dòng họ.

biachogiat-cover.png

Nội dung: Trần Mạnh Cường | Thiết kế: Hữu Quân

• 18/07/2026

Ngày 15/7/2026, Bảo tàng Nghệ An - Xô Viết Nghệ Tĩnh tiếp nhận một hiện vật quý do gia đình bà Nguyễn Thị Loan xã Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, tự nguyện hiến tặng. Hiện vật là một tấm bia đá được gia đình gìn giữ nhiều năm trong khuôn viên lăng mộ dòng họ.

Với mong muốn hiện vật được bảo quản trong điều kiện tốt hơn, đồng thời phát huy giá trị phục vụ công tác nghiên cứu, trưng bày và giáo dục truyền thống, gia đình đã chủ động liên hệ và trao tặng hiện vật cho Bảo tàng. Để hiểu rõ hơn về nội dung văn bia cũng như những sự kiện lịch sử đương thời, xin giới thiệu bài viết của Nhà nghiên cứu Trần Mạnh Cường - Trung tâm KHXH&NV tỉnh Nghệ An.

biachogiat-t1.png

Tấm văn bia này mang tên “Nhân Huống thị bi 仁貺市碑 - Bia chợ Nhân Huống”, được dựng vào năm Mậu Dần (1938), gồm 394 chữ Hán. Văn bia này trước đây, khả năng cao là 1 văn bia có nội dung khác và niên đại khác. Chữ cũ vẫn còn nhạt mờ do người xưa mài chưa nhẵn hết. Xung quanh viền bia cũng đã bị đục nham nhở.

Còn “Nhân Huống thị bi” đang khắc trên bia hiện nay là khắc lại. Qua hơn tám mươi năm dãi dầu mưa nắng, chứng kiến những biến thiên của lịch sử cũng như đổi thay của thời đại, văn bia nhiều chữ đã mờ, nhưng phần lớn nội dung vẫn còn đang đọc được.

Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh.
Bảo tàng Nghệ An - Xô Viết Nghệ Tĩnh. Ảnh: Tư liệu

Trước hết, xin dịch sang tiếng Việt, như sau:

Kinh Dịch viết rằng: “Giữa trưa họp chợ”, đây là cách người xưa tạo thuận lợi cho hàng hoá, giải quyết tình trạng kẻ thừa người thiếu vậy. Chợ Giát (tên chữ là Nhân Huống) của huyện ta xưa kia ở bến sông, mỗi mùa Thu về nước lên thì ngập ngụa, lại thêm chỗ đất thấp lầy lội, thực chẳng phải là một nơi cao ráo vậy. Năm ngoái, nhờ có Đốc bộ đường của tỉnh ta là Ưng Úy đại thần và Quý công sứ Ra Ninh đại thần, xem xét, hiệp thương, trích một số tiền công, rồi sức xuống cho di dời chợ Giát ra bên cạnh đường thiên lý.

Huyện ta vâng theo, xuất tiền mua đất, bỏ công đắp nền, công cán tốn kém, sợ rằng khó xong. Thực may có Huyện lệnh Trần Mậu Trinh. Minh công thấu hiểu ý bề trên, mến thương tình kẻ dưới, nhiệt tình chấn chỉnh, quy hoạch, dựng xây. Chẳng mấy chốc chợ liền đổi khác, đình thì cao, lầu thì rộng, lại lợp ngói để tiện cho kẻ buôn người bán. Chợ họp vẫn như xưa, nhưng chợ quán lại đổi thay mới mẻ. Rồi lại đào giếng, lại khơi sông, người người lại qua tấp nập, thuyền bè xe cộ tụ hội, những buôn giàu lái lớn ai nấy đều ưng cất giữ hàng hoá tại đây. Phàm là chỗ thiếu thì lấp đủ, còn chỗ tắc thì khơi thông, chỗ cũ thì đổi mới, chỗ tan thì tụ về, nếu không phải người có tài xoay chuyển lớn lao, thì không thể nào làm được.

Trần Minh công (chỉ Trần Mậu Trinh) vốn là nhà chính trị, trị nhậm đất này tới nay đã 5 năm, kế thừa và truyền bá giáo hoá, thương dân như chính mình, kẻ ác độc thì dùng thuốc men và uốn nắn, dân lưu tán thì xây tường ngói để chở che. Lại gây dựng việc công hiển hách. Phàm những gì gắn với dân sinh thì đều lần lượt thực thi, như sửa sang trường học, như xây dựng nhà thương, như tổ chức nông tang, như chấn hưng công nghệ. Nay lại chú tâm vào thương trường, nên càng dốc sức cho chợ Giát, ấy là muốn tạo nơi hội tụ người dân mà dân lại có lợi vậy.

Ngày khánh thành chợ, kính cẩn đón Hoàng Đế bệ hạ giá lâm, quý khâm sứ đại thần, các quan đại thần ở tỉnh cưỡi xe đến trú tại phía Tây Nam, các quý quan cũng đều đến dự. Thực là ngàn năm một thuở, há chẳng phải lớn lao lắm hay sao. Nay, bản huyện khắc vào đá dựng ở chợ, để biết rằng công đức ấy vẫn còn ở trong tai mắt người đời vậy. Núi Thần sông Giát muôn thuở còn đây. Nên làm bài ký này.

Ngày tốt tháng 5 năm Mậu Dần (1938). Bia chợ Nhân Huống.

Văn bia chợ Giát, hiện đang bảo quản tại Bảo tàng Nghệ An -Xô Viết Nghệ Tĩnh
Văn bia chợ Giát, hiện đang bảo quản tại Bảo tàng Nghệ An - Xô viết Nghệ Tĩnh.

Chúng ta thấy, văn bia này chưa đến 500 chữ Nho, tuy ngắn gọn, nhưng chứa đựng thông tin dày đặc. Văn bia thuật lại một cuộc di dời chợ Giát từ bên sông sang bên đường thiên lý, đồng thời ca ngợi quan Huyện lệnh Trần Mậu Trinh. Đồng thời, văn bia cũng phản ánh cùng một lúc 4 tầng lớp: Vương quyền nhà Nguyễn thời kỳ cuối (Vua Bảo Đại Bắc tuần); chính quyền thuộc địa Pháp (các viên Khâm sứ, Công sứ); Quan lại địa phương (Huyện lệnh Trần Mậu Trinh) và xã hội cơ sở (thương nhân, dân chúng huyện Quỳnh Lưu) lúc bấy giờ.

Đặc biệt, văn bia đề “Nhân Huống bài chí”, trong đó, “Nhân Huống 仁貺” là tên chữ, nghĩa là “ơn ban nhân đức”; còn “Giát戛” là tên thổ âm, thuần địa phương, dùng để phiên âm, không liên quan nghĩa. Việc 1 địa điểm có 2 tên gọi gồm một tên Hán Việt trang trọng và 1 tên bản địa, rất phổ biến tại Việt Nam vốn theo văn minh Nho học.

Sự tồn tại song hành của 2 tên gọi trong cùng một văn bia, cho chúng ta thấy một điều thú vị, người soạn bia muốn dùng tên chữ để làm cho ngôi chợ trở nên trang trọng, hợp lễ nghi, trong khi tên “Giát” vẫn được giữ lại như một dấu hiệu đặc trưng xứ sở.

biachogiat-t2.png

Nội dung chính yếu của văn bia này cho ta thấy rõ sự chuyển dịch không gian kinh tế, từ bến sông ra ven đường cái. Bia miêu tả chợ cũ: “Chợ Giát của huyện ta xưa kia ở bến sông” cho ta thấy đây là bức tranh điển hình của một chợ quê ven sông ở đồng bằng Bắc Trung Bộ, gần sông, thuyền bè tiện chở hàng hòa. Nhưng bất lợi lại là: “mỗi mùa Thu về nước lên thì ngập ngụa, lại thêm chỗ đất thấp lầy lội, thực chẳng phải là một nơi cao ráo vậy”, khiến cho giao thông khó khăn, hàng hóa hư hỏng; dẫn đến việc các nhà buôn không yên tâm đầu tư buôn bán. Chính vì vậy mà chính quyền huyện bấy giờ hoạch định việc chuyển chợ từ bên sông sang cạnh đường thiên lý Bắc - Nam, tức là Quốc lộ 1A hiện nay.

Chúng ta thấy việc làm này rất phù hợp với thời thế, bởi những năm 1930, xe ô tô, xe tải và tàu hỏa bắt đầu phổ biến ở Việt Nam. Đường bộ dần thay thế đường sông trong vận chuyển hàng hóa đường dài. Dời chợ ra quốc lộ là bắt kịp xu thế thời đại.

Việc chuyển dời này sẽ biến chợ Giát từ chợ địa phương (1 huyện) sang thành trung tâm thương mại vùng, vì nằm trên trục giao thông chính nối Bắc - Nam. Văn bia nói “thuyền bè xe cộ tụ hội” tức vừa có thuyền (vẫn giữ được lợi thế đường sông), vừa có xe (tiếp cận đường bộ), ý chỉ rằng, chợ Giát vẫn kết hợp cả đường sông lẫn đường bộ.

Vị trí chợ Giát bên cạnh Quốc lộ 1A
Vị trí chợ Giát hiện nay bên cạnh Quốc lộ 1A. Ảnh: Google maps

Đặc biệt, chợ Giát mới bên cạnh Quốc lộ có cơ sở hạ tầng hiện đại: Giếng nước, mái ngói, sông khơi. Khi chợ có mái che, không còn là chợ trời, thương nhân và hàng hóa được bảo vệ khỏi mưa nắng; khi chợ có giếng là có nguồn nước sạch cho người buôn bán và dân chúng thực hiện vệ sinh công cộng; rồi bên chợ lại khơi sông, vừa để phòng lụt vừa để đảm bảo đường thủy. Qua 3 yếu tố mái che, nước sạch, giao thông, chúng ta thấy rõ đây là những trụ cột của một trung tâm thương mại hiện đại theo tiêu chuẩn thời bấy giờ. Chính quyền huyện và người soạn văn bia đã nhận thức được thương mại không thể phát triển, nếu thiếu hạ tầng kỹ thuật. Đây là một tư duy rất tiến bộ so với các làng xã truyền thống.

Văn bia còn nói: người người lại qua tấp nập”, chứng tỏ chợ mới đã thu hút đông đảo dân chúng. Và đặc biệt là “những buôn giàu lái lớn ai nấy đều ưng cất giữ hàng hóa tại đây” cho thấy sự tin tưởng của giới thương nhân đối với hoạt động của chợ Giát.

biachogiat-t3.png

Văn bia ghi rõ: “Ngày khánh thành chợ, kính cẩn đón Hoàng Đế bệ hạ giá lâm, quý khâm sứ đại thần, các quan đại thần ở tỉnh cưỡi xe đến trú tại phía Tây Nam, các quý quan cũng đều đến dự”. Chúng ta thấy mốc thời gian được ghi trong văn bia là: “Ngày tốt tháng 5 năm Mậu Dần”. Như vậy, “Hoàng Đế bệ hạ” được nói tới chính là Vua Bảo Đại, còn “quý khâm sứ đại thần” là khâm sứ Trung Kỳ kiêm Phó Toàn quyền Đông Dương Maurice Graffeuil, bởi Mậu Dần bấy giờ là năm 1938.

Theo lịch trình được báo chí đương thời ghi lại, nhà vua đã có một ngày làm việc vô cùng dày đặc:

7 giờ 30: Dự lễ khánh thành đập Yên Trạch tại xã Thái Sơn, huyện Đô Lương.

7 giờ 45: Thăm đập Long Thái – một công trình thủy lợi khác cùng thuộc xã Thái Sơn.

8 giờ 30: Về lại Đô Lương, thăm chợ mới và bến đò.

Sau đó, nhà vua đi qua Phủ Quỳ, thăm các công trình thủy lợi và chợ mới xây dựng.

11 giờ: Ban thưởng cho các gian hàng trưng bày tại Hội chợ Kẻ Bọn.

11 giờ 30: Đến thăm làng Cao Hậu Đoài (nay thuộc xã Diễn Đoài, huyện Diễn Châu) và dùng bữa trưa tại đình làng.

14 giờ 30: Dự lễ khánh thành chợ mới Cầu Giát – địa điểm được ghi trong tấm bia "Nhân Huống thị bi". Tại đây, nhà vua đã trao thưởng huy chương cho những người có công trong việc xây dựng và di dời chợ.

16 giờ: Về Vinh, nghỉ tại nhà nghỉ mát của Tòa sứ ở Cửa Lò.

Chợ Giát xưa
Chợ Giát xưa. Ảnh: Tư liệu

Đọc qua đây, chúng ta dường như thấy “có gì đó sai sai”. Bởi, vua tới dự lễ khánh thành chợ Giát vào mồng 9 tháng 6, nhưng trên văn bia lại ghi là “ngày tốt tháng 5”. Thực ra, báo chí và các tài liệu hành chính của chính quyền thuộc địa thường ghi theo dương lịch, còn văn bia chữ Nho lại ghi theo âm lịch, như một cách thể hiện sự trang trọng và nối tiếp truyền thống văn hóa. Ngày 9 tháng 6 năm 1938 dương lịch, chính là ngày 12 tháng 5 năm Mậu Dần.

Điều đáng chú ý trong chuyến thăm Nghệ An này có sự song hành giữa Vua Bảo Đại và Khâm sứ Pháp, phản ánh rõ bản chất của nền chính trị Đông Dương thời bấy giờ, vua chỉ là biểu tượng, còn quan Pháp là người nắm quyền quyết định. Chính vì vậy, sự kiện “hoàng đế bệ hạ giá lâm” dự lễ khánh thành chợ Giát không đơn thuần chỉ là một chuyến đi thị sát, mà còn là một màn “truyền thông hình ảnh” từ cả Vua Bảo Đại, chính quyền thuộc địa và quan lại địa phương.

biachogiat-t4.png

Phần mở đầu văn bia nói về việc chuyển dời chợ Giát, thì phần sau (phần chính) văn bia ca ngợi quan Huyện lệnh Trần Mậu Trinh, với những mỹ từ “sang” nhất. Người soạn bia xưng tụng ông là “Minh công” tức người sáng suốt, “thấu hiểu ý bề trên, mến thương tình kẻ dưới, nhiệt tình chấn chỉnh, quy hoạch, dựng xây… nếu không phải người có tài xoay chuyển lớn lao, thì không thể nào làm được”.

Rồi là: “Trần Minh công vốn là nhà chính trị, kế thừa và truyền bá giáo hoá, thương dân như chính mình, kẻ ác độc thì dùng thuốc men và uốn nắn, dân lưu tán thì xây tường ngói để chở che". Thực sự đúng chuẩn mực của một vị “cha mẹ của dân” theo lý tưởng Nho giáo.

Hơn nữa, văn bia còn liệt kê hàng loạt công việc ông đã làm trong 5 năm cai trị Quỳnh Lưu: Lại gây dựng việc công hiển hách. Phàm những gì gắn với dân sinh thì đều lần lượt thực thi, như sửa sang trường học, như xây dựng nhà thương, như tổ chức nông tang, như chấn hưng công nghệ. Nay lại chú tâm vào thương trường, nên càng dốc sức cho chợ Giát, ấy là muốn tạo nơi hội tụ người dân mà dân lại có lợi vậy”.

bna_bia-cho-giat-0d0596462006fe2379a08841fb0d4780(1).jpeg
Nhà nghiên cứu Trần Mạnh Cường và cán bộ Bảo tàng Nghệ An - Xô viết Nghệ Tĩnh xem và nghiên cứu văn bia chợ Giát.

Tuy nhiên, “truyền thông Nhà nước” thì vậy, còn “truyền thông người dân” lại cho thấy một hình ảnh hoàn toàn trái ngược. Ngày 2/1/1931, nhân dân huyện Nghi Lộc đấu tranh giết chết Tri huyện Tôn Thất Hoàn và đồng bọn. Nhà nước bảo hộ Pháp cử Trần Mậu Trinh (vốn xuất thân từ lính khố đỏ) lên thay. Để trả thù Tự vệ Đỏ huyện Nghi Lộc, Trần Mậu Trinh đã mở cuộc đàn áp khủng bố trắng, đàn áp phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh, khiến hàng trăm chiến sĩ cách mạng bị bắt bớ, tra tấn, tù đày, (trong đó có đồng chí Nguyễn Trương Khoát - Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An).

Sự đối lập của 2 “mảng truyền thông” này không có gì đáng ngạc nhiên, bởi văn bia là văn bản ca công, chỉ ghi lại mặt tích cực và mang tính tuyên truyền, có lợi cho triều Nguyễn và nước Pháp; còn các tài liệu khác lại xuất phát từ góc nhìn của những nhà cách mạng và chiến sĩ cộng sản đang tích cực tìm cách lật đổ chế độ thực dân phong kiến.

Vẫn có thể khẳng định Trần Mậu Trinh là một viên quan có năng lực thực sự, dù động cơ có thể là phục vụ chính quyền thực dân, nhưng việc ông tổ chức xây dựng chợ, mở trường, làm bệnh viện, khuyến khích nông tang và phát triển công nghệ, đã góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người dân bản địa.

Tuy nhiên, việc Trần Mậu Trinh đàn áp đẫm máu phong trào cách mạng, thực sự đã khiến ông trở thành tội đồ dân tộc, không thể tha thứ. Đây cũng là bi kịch và nghịch lý của nhiều viên quan trong chế độ phong kiến thuộc địa trước cách mạng Tháng Tám.

biachogiat-t5.png

Văn bia viết bằng thể văn ngôn chữ Nho, vừa có nhiều điển tích trích xuất từ nhiều sách vở kinh điển Trung Hoa cổ trung đại: Mở đầu, văn bia dẫn điển tích từ Kinh Dịch - “nhật trung vi thị” (giữa trưa họp chợ) để hợp thức hóa việc lập chợ như một hoạt động có từ thời thượng cổ của các bậc thánh nhân, rồi kết thúc bằng “công đức ấy vẫn còn ở trong tai mắt người đời", như một lời nhắn về đức độ của người cai trị sẽ được lê dân ghi nhớ; vừa ghi chép nhiều khái niệm mới của thời cận hiện đại, như “tổ chức”, “chính trị gia”, “nông tang”, “công nghệ”, “nhà thương”,… Đây là một minh chứng sống động cho sự giao thoa giữa truyền thống và hiện đại, Đông và Tây, phong kiến và thuộc địa.

Và hơn hết, phía sau lớp ngôn từ Nho giáo là một hệ thống tư duy hiện đại và đậm chất thực dân:

“Công ngân”, tức tiền công quỹ, không phải là tiền của quan hay tiền dân quyên góp, mà là ngân sách Nhà nước theo tư duy hiện đại;

“Tổ chức nông tang” cho thấy sự xuất hiện của động từ “tổ chức” thể hiện rõ phương pháp quản lý kiểu phương Tây, không phải kiểu “khuyến nông” truyền thống của các triều đại phong kiến;

“Xây bệnh viện” là một khái niệm hoàn toàn mới, hoàn toàn không có trong làng, xã truyền thống, mà là sản phẩm của y học hiện đại và nhà nước thuộc địa.

“Chấn hưng công nghệ” tức kêu gọi phát triển kỹ nghệ, thủ công công nghiệp hóa, gợi nhớ phong trào “thực nghiệp” của Nhật Bản và các nước phương Tây.

Những khái niệm này đã được “Nho giáo hóa” để phù hợp với văn phong của một văn bia truyền thống, mà người soạn văn bia đã khéo léo gói ghém tư duy hiện đại trong chiếc áo Hán văn cổ điển. Tất cả đan xen lẫn nhau. Triều đình (Nho giáo) nói về “đức trị”, “yêu dân”; Thực dân (nước Pháp) nói về “khai hóa”, “văn minh”, “quy hoạch”, “ngân sách”.

biachogiat-t6.png

Nghệ An thập niên 30 của thế kỷ XX, các nguồn sử liệu chính thống hiện nay thường tập trung vào các sự kiện chính trị như phong trào Xô viết Nghệ - Tĩnh (1930 - 1931) hay các phong trào đấu tranh giành độc lập. Rất ít tư liệu ghi chép về đời sống kinh tế - xã hội bình thường của một huyện.

Chính vì vậy, văn bia “Nhân Huống thị bi” cung cấp một câu chuyện vi sử, nhưng lại tương đối đầy đủ: Từ quyết định của cấp tỉnh và Nhà nước bảo hộ Pháp, qua sự chỉ đạo của Huyện lệnh, đến thi công, hoàn thành và lễ khánh thành có vua và quan khâm sứ tới dự. Đó là một quy trình hành chính hoàn chỉnh của một dự án công cộng thời Pháp thuộc.

Đường ven biển qua Quỳnh Lưu.
Đường ven biển Nghệ An

Cuối cùng, về mặt văn học, tấm bia là một tác phẩm văn biền ngẫu Hán văn cuối thời với những câu Phú đẹp: “Chỗ thiếu thì lấp đủ, chỗ tắc thì khơi thông; chỗ tan thì tụ về, chỗ cũ thì đổi mới”. Đây là một đoạn văn có nhịp điệu mạnh mẽ, sử dụng liền 4 động từ để tạo hiệu quả liệt kê. Nó cho thấy người soạn bia là một nhà Nho có trình độ Hán học cao, lại am hiểu thực tế địa phương và có tầm nhìn hiện đại.

Tấm bia đã làm được điều mà nhiều sử sách chính thống không làm được. Bởi nó ghi lại một cách chân thực, sống động và đa diện một mảnh ghép của lịch sử Việt Nam, ở ngã rẽ giữa phong kiến và hiện đại, giữa độc lập và thuộc địa; đồng thời làm tròn vai trò của một "camera" ghi lại khoảnh khắc ngày hôm đó.

Đối với người dân Quỳnh Lưu, đó là một di sản quý báu. Đối với nhà nghiên cứu, đó là một sử liệu thật hay. Và cũng không phải ngẫu nhiên mà tấm bia này vẫn còn tồn tại đến tận hôm nay, như một chứng nhân thầm lặng của một thời kỳ mà vương quyền, thực dân và thần dân đã cùng gặp nhau nơi chợ Giát.

Chợ Giát hiện nay nằm bên cạnh Quốc lộ 1A
Chợ Giát hiện nay bên cạnh Quốc lộ 1A. Ảnh: P.V
0 0 0
“Nhân Huống thị bi” - một văn bia chợ quê trong khúc quanh lịch sử
Google News
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO