Những cử nhân gieo 'mầm xanh' trên đất khó

Thanh Quỳnh •15/01/2026
Sinh ra từ những miền đất còn nhiều khó nhọc, hơn ai hết, những bạn trẻ “đi ra từ quê” thấm thía giá trị của từng hạt lúa, củ khoai đã nuôi mình khôn lớn. Từ tình yêu với quê hương, sau khi tốt nghiệp đại học, họ mang tri thức trở về, xây dựng những mô hình kinh tế mới để mở ra sinh kế bền vững trên chính mảnh đất mình lớn lên.
Điểm sáng ở Cằng Bài
Những ngày cuối năm, nam thanh niên Huỳnh Tiến Phước (sinh năm 1994) dường như tất bật hơn để chăm cho đàn lợn gần 40 con của mình. Trong đó, có 20 con sẽ được xuất chuồng vào dịp Tết Nguyên đán này. Phước là người con của thôn 1, xã Quỳ Châu nhưng phát triển trang trại ở bản Cằng Bài, xã Châu Tiến.
Nhà cách trang trại gần 15 km trong đó, có gần 3 km đường đồi nên nhiều khi Phước ở lại trang trại qua ngày để tiện theo dõi đàn vật nuôi. Bởi thế, bản Cằng Bài cũng được xem là mái nhà thứ 2 của chàng trai trẻ. Ít ai biết rằng, anh là một cử nhân kinh tế của Trường Đại học Kinh tế Huế, Khoa Quản trị kinh doanh. Tấm bằng cử nhân không khiến Phước rời xa ruộng vườn, mà giúp anh nhìn việc chăn nuôi theo một cách khác: Biết tính toán đầu vào - đầu ra và đặc biệt, anh đã tháo gỡ được “nút thắt” ở khâu tạo nguồn thức ăn cho lợn để phát triển đàn vật nuôi theo hướng hàng hóa.
.jpg)
Phước kể, năm 2012, sau khi tốt nghiệp THPT, anh thi đậu vào Trường Đại học Kinh tế Huế, chuyên ngành Quản trị kinh doanh tổng hợp. Trong những năm học, mỗi lần về quê nhìn diện tích đồi ở bản Cằng Bài chủ yếu trồng keo nhưng hiệu quả không cao, vì bố mẹ đã lớn tuổi, thiếu điều kiện đầu tư, anh luôn trăn trở phải làm gì đó khác đi. Bởi vậy, năm 2016, sau khi tốt nghiệp đại học, Phước không chọn ở lại thành phố mà trở về quê, bắt tay cải tạo lại khu đồi của gia đình để phát triển gia trại.
Giai đoạn đầu, anh vừa chăm sóc rừng keo, vừa vay vốn nuôi bò, nuôi dê để tạo nguồn thu. Tuy nhiên, do chu kỳ quay vòng vốn của bò và dê khá dài, hiệu quả chưa rõ rệt, Phước dần chuyển hướng sang nuôi lợn đen. Đây là giống vật nuôi bản địa có tính thích nghi cao, thời gian xuất chuồng nhanh hơn, lại đang được thị trường ưa chuộng.
Thời điểm Phước bắt tay vào làm trang trại, ở bản rất ít người nuôi lợn với quy mô lớn. Bởi cách cho ăn phổ biến vẫn là nấu cám thủ công, phù hợp với vài ba con trong vườn nhà, nhưng khi số lượng tăng lên thì vừa tốn công, vừa không kịp cung cấp thức ăn. Ngược lại, nếu sử dụng hoàn toàn thức ăn công nghiệp thì chi phí cao và không còn giữ được chất lượng thịt đặc trưng của lợn đen.
.jpg)
Từ những trăn trở đó, qua quá trình tìm hiểu và học hỏi các mô hình thành công ở nhiều nơi, Phước tiếp cận được phương pháp ủ thức ăn từ cỏ voi kết hợp với bột ngô, bột cám. Anh đặt mua men vi sinh từ Học viện Nông nghiệp Việt Nam, nghiên cứu kỹ quy trình kỹ thuật rồi áp dụng vào trang trại. Song song với đó, Phước dành khoảng nửa héc-ta đất để trồng cỏ voi, chủ động nguồn thức ăn thô xanh cho đàn lợn, giảm đáng kể chi phí và áp lực mua thức ăn bên ngoài.
Đến năm 2019, khi bài toán thức ăn đã được giải quyết, Phước bắt đầu đầu tư hệ thống chuồng trại bài bản, mua lợn nái về nuôi sinh sản. Bình quân mỗi năm, lợn nái đẻ 2 lứa, mỗi lứa từ 6 - 8 con. Lợn con được nuôi đến khoảng 20 kg thì xuất bán, những con cái khỏe mạnh tiếp tục được giữ lại làm giống, tạo vòng quay khép kín cho trang trại.
Có thời điểm, tổng đàn lợn của anh Phước lên tới gần 100 con, gồm lợn nái, lợn giống và lợn thịt, nhưng nguồn thức ăn vẫn được đảm bảo nhờ hệ thống ủ và diện tích cỏ voi sẵn có. Việc đặt trang trại xa khu dân cư cũng giúp hạn chế rủi ro dịch bệnh. Chỉ có một lần duy nhất lợn bị dịch tả Châu Phi vào năm 2025, nhưng anh Phước đã kịp thời xử lý, gây lại đàn và siết chặt quy trình tiêm phòng, coi đó là một bài học lớn để giữ cho mô hình phát triển bền vững hơn.
.jpg)
Đến nay, mô hình chăn nuôi lợn đen của anh Phước đã trở thành một điểm sáng ở bản Cằng Bài, bình quân mỗi năm mang lại nguồn thu trên dưới 200 triệu đồng.
Kết hợp với gần 3 ha keo đang được chăm sóc tốt, mô hình sản xuất tổng hợp này đang mở ra hướng đi bền vững hơn cho gia đình Phước để hình thành một sinh kế ổn định hơn cho tương lai.
Biến đất ruộng thành mô hình kinh tế tiềm năng
Với hơn 400 gốc đào được trồng trên diện tích vườn và ruộng của gia đình, mô hình của chị Tô Thị Hiếu (sinh năm 1993) ở xóm 6, xã Vân Du đang từng bước giúp chị ổn định cuộc sống. Theo chị Hiếu, không phải vụ nào toàn bộ số đào cũng được bán hết, nhưng những gốc còn lại tiếp tục được chăm sóc để bán cho năm sau, nhờ đó, mô hình luôn giữ được giá trị. Bình quân mỗi năm, vườn đào tiêu thụ khoảng 200 - 300 gốc, với giá trung bình khoảng 400.000 đồng/cây đối với đào trên 1 năm tuổi. Sau khi trừ chi phí, thu nhập từ đào cao gấp 4 - 5 lần so với trồng rau màu trên cùng diện tích đất.
Điều thú vị là người phụ nữ gắn bó với ruộng vườn ấy lại từng là cử nhân Kế toán, tốt nghiệp Đại học Kinh tế Nghệ An (nay là Đại học Nghệ An) năm 2015. Sau khi ra trường, chị Hiếu đi làm ở nhiều môi trường khác nhau, vừa để trang trải cuộc sống, vừa tích lũy vốn và kinh nghiệm. Đến năm 2022, khi trở về quê lập gia đình, đứng trước mảnh vườn và thửa ruộng của cha mẹ, chị bắt đầu tính toán một hướng đi lâu dài từ chính cây đào - loại cây đã có sẵn và phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng của địa phương.
.jpg)
“Thời điểm đó, bố mẹ tôi trồng gần 200 gốc đào trên diện tích đất vườn, còn phần ruộng thì chủ yếu để trồng rau màu. Sau khi thấy cây đào cho hiệu quả kinh tế rõ rệt hơn, tôi quyết định cải tạo luôn diện tích ruộng chuyên trồng màu để trồng thêm khoảng 200 gốc nữa. Nguồn cung cây giống được lấy từ địa phương nên tôi yên tâm về chất lượng. Thông thường, người trồng đào xuống giống từ đầu năm, đến cuối năm là có thể bán. Đó là cây 1 năm tuổi. Ngoài ra, vườn còn duy trì các lứa cây 2 năm, 3 năm tuổi, những cây có dáng, thế đẹp thì giá trị tăng dần theo thời gian”, chị Hiếu cho biết.
Để cây đào sinh trưởng tốt và nở hoa đúng dịp Tết, chị Hiếu và gia đình phải theo sát từng giai đoạn phát triển của cây. Từ khâu làm đất, bón phân, tạo tán, đến việc tuốt lá và điều tiết nước theo chu kỳ sinh trưởng và diễn biến thời tiết. Nền tảng học tập bài bản từ bậc đại học giúp Hiếu có tính kiên nhẫn để tiếp cận các quy trình kỹ thuật một cách khoa học, không ngại tìm hiểu, ghi chép và thử nghiệm để tạo dựng cho mình một sinh kế bền vững.
Không giấu được niềm vui, chị Nguyễn Thị Tuyết - Bí thư Đoàn xã, Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ xã Vân Du cho biết, xã Vân Du được thành lập trên cơ sở sáp nhập 3 xã Thịnh Thành, Tây Thành và Minh Thành. Dù một số địa bàn của xã còn nhiều khó khăn về hạ tầng, sản xuất và sinh kế, nhưng thanh niên địa phương đã kiên trì tìm hướng đi mới, từng bước hình thành gần 40 mô hình phát triển kinh tế, tạo sinh kế và việc làm ngay trên quê hương. Địa phương đang quản lý nguồn vốn ủy thác từ Ngân hàng Chính sách xã hội với tổng dư nợ hơn 10 tỷ đồng, hỗ trợ vay vốn giải quyết việc làm cho 45 trường hợp, trong đó có nhiều mô hình kinh tế do thanh niên làm chủ.


.jpg)

Nhìn ra địa bàn toàn tỉnh, Phó Bí thư Tỉnh đoàn Hồ Phúc Hải cho biết, ngày càng nhiều bạn trẻ được đào tạo bài bản ở bậc cao đẳng, đại học lựa chọn trở về quê hương để khởi nghiệp từ nông nghiệp. Điển hình như Nguyễn Hữu Thắng (SN 1997, ở xã An Châu), tốt nghiệp ngành nuôi trồng thủy sản Trường Đại học Vinh, đã xây dựng thành công mô hình nuôi tôm công nghệ cao. Vừa qua đã được trao Giải thưởng Lương Định Của năm 2025. Hay như Lê Lưu Thắng (sinh năm 1994, ở xã Nam Đàn) tốt nghiệp ngành quản lý tài nguyên và môi trường, Trường Đại học Vinh cũng đã trở về quê thành lập Hợp tác xã nông nghiệp, phát triển mô hình trồng bí xanh và sản xuất phân vi sinh hữu cơ, ứng dụng kỹ thuật mới vào sản xuất sạch. Hoặc Nguyễn Văn Đạt (SN 1992, xã Lam Thành), kỹ sư xây dựng, lại chọn con đường khởi nghiệp với mô hình rau sạch ngay trên mảnh đất quê nhà.
Từ những con đường khác nhau, các bạn trẻ ấy đang góp phần tạo việc làm tại chỗ, đưa tri thức và công nghệ vào nông nghiệp, qua đó hình thành những động lực mới cho sự phát triển bền vững của làng quê.


