Kinh tế

Những mùa mật mía bên dòng sông Con

Khánh Ly - Duy Nam 13/09/2026 07:44

Từ những ruộng mía trải dài bên dòng sông Con, người dân xã Nghĩa Hành chắt chiu vị ngọt của đất trời qua những chảo mật đỏ lửa, tạo nên một sản vật ngọt lành mang thương hiệu quê hương: Mật mía. Qua bao năm tháng, nghề nấu mật vẫn được gìn giữ và phát triển, bằng đôi bàn tay khéo léo, sự kiên nhẫn và tình yêu với một hương vị đã gắn bó sâu đậm với đời sống, sinh kế của người dân nơi đây.

cover-matmia.png

Khánh Ly - Duy Nam / Trình bày: Hồng Toại • 13/9/2026

*****

Từ những ruộng mía trải dài bên dòng sông Con, người dân xã Nghĩa Hành chắt chiu vị ngọt của đất trời qua những chảo mật đỏ lửa, tạo nên một sản vật ngọt lành mang thương hiệu quê hương: Mật mía. Qua bao năm tháng, nghề nấu mật vẫn được gìn giữ và phát triển, bằng đôi bàn tay khéo léo, sự kiên nhẫn và tình yêu với một hương vị đã gắn bó sâu đậm với đời sống, sinh kế của người dân nơi đây.

titphu1.png

Những ngày chưa vào chính vụ, lò mật của gia đình anh Lê Văn Ba (SN 1983) ở xóm Môn Sơn, xã Nghĩa Hành vẫn còn những chum mật sóng sánh. Mở nắp chum, mùi thơm dịu của mật mía lan ra trong không gian.

Anh Ba cẩn thận rót từng dòng mật màu nâu đỏ vào chai cho khách. Dòng mật đặc, sánh, chảy chậm rồi nằm yên trong chai, óng lên dưới ánh sáng. Đây là một trong những lò mật lớn ở xóm Môn Sơn.

Gia đình anh Ba có gốc ở xã Hùng Tiến (Nam Đàn cũ), nay là xã Kim Liên. Hơn nửa thế kỷ trước, ông bà anh di cư đến Nghĩa Hành làm kinh tế mới, rồi gắn bó với vùng đất này qua ba thế hệ. Nghề nấu mật cũng theo đó trở thành một phần cuộc sống của gia đình. Anh Ba biết làm mật từ khi còn là cậu bé mười mấy tuổi.

Ngày ấy, để ép mía, người dân chủ yếu dùng sức trâu, bò kéo che; có thời gian chuyển sang máy nổ. Bây giờ máy ép điện đã giúp giảm bớt sức lao động, nhưng những công đoạn quyết định chất lượng mật vẫn cần đến bàn tay và kinh nghiệm của người thợ.

img_6565.jpg
Anh Ba (bìa trái) chia sẻ về nghề nấu mật mía gắn bó với anh gần 40 năm nay. Ảnh: K.L

Muốn có mẻ mật ngon thì trước hết mía phải ngon”.

Anh Ba nói.

Mía làm mật phải là những cây thẳng, vỏ vàng, không sâu bệnh, không bị đổ ngã và đặc biệt phải đủ tuổi. Thông thường, cây mía được chăm sóc khoảng 1 năm mới cho thu hoạch. Nếu mía còn non, lượng đường chưa đủ, nước ép dễ bị chua, mật làm ra cũng khó đạt chất lượng.

Sau khi thu hoạch, mía được róc sạch, cắt thành từng khúc rồi đưa vào máy ép lấy nước. Nước mía được lọc, lắng trước khi đưa vào những chiếc chảo gang lớn đặt liên hoàn trên bếp lò.

Từ đây, công việc tưởng giản đơn lại đòi hỏi sự chăm chút đến từng thời điểm. Lửa phải giữ đều, nước mía sôi phải được khuấy liên tục, bọt nổi lên đến đâu phải vớt đến đó.

Chậm tay, mật có thể bị ảnh hưởng về màu và độ trong; quá tay, mẻ mật cũng khó đạt độ sánh như mong muốn. Một mẻ mật thường mất khoảng 4 giờ, cũng là từng ấy thời gian người thợ phải đứng bên những chiếc chảo lớn đỏ lửa, mắt không rời mặt mật.

Khi nước mía dần cô lại, màu vàng nhạt ban đầu chuyển sang nâu đỏ, rồi đỏ cánh gián. Mùi thơm của mía cũng theo đó đậm dần lên, quyện với hơi nóng từ bếp lò.

“Khâu nấu mật là vất vả nhất. Phải đứng canh chảo mật suốt, vừa khuấy, vừa vớt bọt. Đến khi mật đạt độ cô nhất định mới được”, anh Ba chia sẻ. Có lẽ chính những giờ đứng bên chảo mật như thế đã tạo nên thứ kinh nghiệm khó đo đếm bằng máy móc.

nen-mia.png

Vợ anh Ba, chị Nguyễn Thị Loan, quê ở Cần Thơ, về làm dâu xứ Nghệ đã 17 năm. Ngày đầu mới về, chị còn lạ lẫm với công việc nấu mật. Dưới sự chỉ bảo của mẹ chồng, rồi qua từng mùa ép mía, chị dần thành thạo. Bây giờ, việc nấu, lọc, đong mật với chị đã trở nên quen thuộc như công việc thường ngày.

Chị vẫn nhớ những ngày đầu đặt chân đến vùng đất này, ấn tượng nhất là những ruộng mía cao quá đầu người nằm dọc những con đường quê. Đến mùa ép, từ các lò mật, hương mía thơm nồng theo gió len qua từng ngõ xóm.

“Ngày mới về làm dâu, tôi chưa biết làm mật, rồi được mẹ chồng chỉ bảo, làm dần thành quen. Qua từng mùa mía, tôi càng gắn bó với công việc này lúc nào không hay”, chị Loan cười nói.

img_6602.jpg
Chị Loan, vợ anh Ba làm dâu Nghĩa Hành 17 năm nay và đã gắn bó với nghề mật mía chừng ấy thời gian. Ảnh: T.P

Gia đình anh Ba, chị Loan vừa tự trồng mía, vừa thu mua nguyên liệu của người dân trong vùng. Mỗi năm, gia đình sản xuất khoảng 200 phuy mật, mỗi phuy chứa khoảng 200 lít. Mùa nấu mật thường tập trung từ tháng 10 đến tháng 3 âm lịch năm sau. Hết mùa ép, những chum mật vẫn tiếp tục được xuất đi; các mối hàng từ trong Nam, ngoài Bắc tìm về lấy mật.

Ở xóm Châu Nam, ông Nguyễn Xuân Đức, 64 tuổi, cũng là người có ba đời làm mật mía. Trước khi sáp nhập, Châu Nam thuộc xã Tân Hương, huyện Tân Kỳ. Khi ấy, cả xã có khoảng 18 hộ nấu mật, riêng Châu Nam đã có hơn chục lò. Nhắc đến nghề, ông Đức cho rằng, điều quý nhất mà người làm mật có được không nằm trên một cuốn sách hay chiếc máy đo mà ở kinh nghiệm tích lũy qua nhiều năm.

Không có thước nào đo chính xác lúc nào phải hớt bọt, lúc nào phải khuấy mật. Người làm lâu năm nhìn màu, nhìn bọt, nghe tiếng sôi là biết”.

Ông Nguyễn Xuân Đức nói.

mật 2
Khi nấu, người thợ phải căn đúng thời điểm để hớt bọt; hớt sớm, mật khó đạt màu đẹp, hớt muộn, mật dễ bị ảnh hưởng về chất lượng. Ảnh: T.P

Theo ông Đức, mía nấu mật phải đủ tuổi, ít nhất khoảng 12 tháng mới có lượng đường thích hợp. Nhưng chọn được mía tốt mới chỉ là bước đầu. Khi nấu, người thợ phải căn đúng thời điểm để hớt bọt; hớt sớm, mật khó đạt màu đẹp, hớt muộn, mật dễ bị ảnh hưởng về chất lượng.

Những chiếc lò ở Nghĩa Hành thường được thiết kế liên hoàn với 4-5 chảo gang lớn, mỗi chảo có thể chứa 170-180 lít nước mía; các chảo nối với nhau và dẫn tới ống khói cao khoảng 5-6 m.

Mỗi khi lò đỏ lửa thường có vài người cùng làm: Người tiếp chất đốt, người ép mía, người đứng chảo vớt bọt, người vận chuyển và phơi bã mía. Lá mía phơi khô trở thành chất đốt lò, bã mía được gom lại sử dụng để bón cho ruộng mía.

img_6634.jpg
img_6748.jpg
Khách tìm đến tận lò mua mật mía. Ảnh: T.P - K.L

Vào mùa, dọc đường Hồ Chí Minh qua xã Nghĩa Hành dễ dàng bắt gặp những lò mật đỏ lửa. Ánh lửa hắt ra từ những căn lò, tiếng máy ép mía đều đều hòa cùng mùi mật thơm theo gió lan xa. Những người làm mật vẫn miệt mài bên chảo lửa, canh từng mẻ mật cho đến khi đạt độ cô đặc thích hợp.

“Mùa nấu mật thường phải làm xuyên đêm. Vất vả nhưng thấy lò đỏ lửa, mật ra đều, có nhiều người tìm mua thì ai cũng vui”, ông Đức chia sẻ.

titphu2.png

Từ những chảo mật đỏ lửa, những giọt mật nâu đỏ sánh đặc được đóng chai, theo chân người làm nghề đến nhiều gian bếp và thị trường trong, ngoài tỉnh.

Bà Lê Thị Hương, 75 tuổi, ở xóm Môn Sơn, nâng thìa mật lên mời khách nếm thử. Mật có màu nâu đỏ tự nhiên, sánh nhưng không quá đặc; vị ngọt không gắt mà dịu, sau đó đọng lại nơi đầu lưỡi một vị đậm vừa phải. Theo bà Hương, đó cũng là một trong những đặc điểm làm nên nét riêng của mật mía Nghĩa Hành.

kéop che
Hiện, một số công đoạn của nghề nấu mật mía đã có máy móc hỗ trợ. Ảnh CTV

Nghề nấu mật đã trải qua không ít thăng trầm. Thời tiết thất thường, hạn hán, ngập úng tác động trực tiếp đến vùng nguyên liệu; trong khi đó, thị trường ngày càng xuất hiện nhiều sản phẩm tạo ngọt khác. Giá cả, đầu ra và sự thay đổi thị hiếu người tiêu dùng cũng đặt nghề truyền thống trước những thử thách mới.

Tuy vậy, với những người làm mật, đây không đơn thuần là một sản phẩm hàng hóa mà còn là thứ gia vị gắn với gian bếp, với những mùa mía và đời sống của gia đình.

Mật được dùng để kho thịt, kho cá, ướp món nướng; làm bánh ngào, bánh gio, nấu chè hay làm món chấm. Một miếng bánh chưng, củ khoai, củ sắn chấm vào chén mật mía cũng đủ gợi nên một hương vị thân thuộc.

Anh Ba
Những lò mật đỏ lửa ở Nghĩa Hành. Ảnh: CTV

Vị mật ấy cũng từng đi vào ca dao: “Chàng ơi ngoảnh mặt ra ngoài, sớm mai đi chợ thiếp mua mật với khoai mài cho mà ăn…”. Có lẽ vì thế mà với nhiều người Nghệ xa quê, một chai mật mía màu nâu đỏ, với mùi thơm dịu đặc trưng, có thể gợi lại những mùa mía, những gian bếp và món ăn quen thuộc.

Nhưng để nghề truyền thống không chỉ được nhắc đến như một câu chuyện của quá khứ, người dân Nghĩa Hành đang tìm cách nâng giá trị sản phẩm.

Theo ông Phạm Ngọc Tài, Chủ tịch Hội Nông dân xã Nghĩa Hành, địa phương đã thành lập Tổ hợp tác sản xuất mật mía, hướng dẫn người dân tuân thủ quy trình sản xuất, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, hỗ trợ nhãn mác và truy xuất nguồn gốc. Sản phẩm mật mía của địa phương đã được công nhận đạt tiêu chuẩn OCOP 3 sao, tạo thêm cơ sở để sản phẩm truyền thống tiếp cận thị trường theo hướng bài bản hơn.

anh1.png
Mật mía Nghĩa Hành đã được công nhận 3 sao OCOP. Ảnh: T.P

Cùng với việc chuẩn hóa sản phẩm, các hộ sản xuất từng bước cải tiến phương pháp canh tác, chú trọng nguồn nguyên liệu, sử dụng phân bón hữu cơ, phòng trừ sâu bệnh và liên kết với nhau trong sản xuất, tiêu thụ.

Sản phẩm được đưa đến các hội chợ và hoạt động xúc tiến thương mại, từng bước mở rộng thị trường. Máy móc đã thay sức người ở một số công đoạn, việc đóng chai, bao bì và đưa sản phẩm ra thị trường cũng dần hiện đại hơn, nhưng những công đoạn quyết định chất lượng mật vẫn cần đến kinh nghiệm của người thợ.

Đó là sự kết hợp giữa cách làm được truyền lại qua nhiều thế hệ với những phương thức sản xuất, tiêu thụ phù hợp hơn với thị trường hiện nay.

img_6768.jpg
Những ruộng mía được chăm sóc theo đúng chuẩn để làm nguyên liệu nấu mật. Ảnh: K.L

Cuộc sống ngày càng hiện đại, những sản phẩm tạo ngọt cũng ngày một phong phú, song ở xã Nghĩa Hành, những chảo mật vẫn đỏ lửa mỗi mùa mía về.

Giữa mùi khói bếp và hương mật lan trong gió, người dân Nghĩa Hành vẫn tiếp tục làm nghề theo cách của mình, vừa giữ những công đoạn truyền thống, vừa tìm cách đưa sản phẩm đi xa hơn. Đó là cách một nghề cũ tiếp tục hiện diện trong đời sống mới, từ chính những mùa mía bên dòng sông Con.

0 0 0
Những mùa mật mía bên dòng sông Con
Google News
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO