Kinh tế

Nuôi lươn không bùn: Từ mô hình thử nghiệm đến hướng xuất khẩu

Xuân Hoàng 17/05/2026 14:00

Giữa thung lũng lèn Dơi, xã Hải Lộc, từ một mô hình nuôi lươn không bùn thử nghiệm, anh Hồ Đức Thọ đã phát triển thành trại nuôi lươn quy mô lớn, từng bước tham gia xuất khẩu. Hành trình ấy không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế cao mà còn mở ra hướng đi bền vững cho nghề nuôi lươn tại Nghệ An.

Trại lươn giữa thung lũng lèn Dơi

Theo chỉ dẫn của anh Hồ Đức Thọ, chúng tôi men theo con đường nhỏ dẫn vào thung lũng lèn Dơi, xóm Tây Sơn, xã Hải Lộc – vùng đất nằm tách biệt, được bao bọc bởi những dãy núi. Giữa không gian khép kín ấy, gần 300 bể nuôi lươn không bùn được quy hoạch ngay ngắn, hệ thống cấp, thoát nước vận hành khoa học, tạo nên một trại nuôi lươn có thể xem là độc đáo bậc nhất hiện nay ở xứ Nghệ.

lươn 5
Trại nuôi lươn của HTX Nông nghiệp sạch Trọng Đức Công. Ảnh: XH

Sinh năm 1979, từng là giáo viên dạy môn Lịch sử, nhưng năm 2009 anh Thọ quyết định rẽ hướng sang kinh doanh tự do. Sau nhiều năm tìm tòi, đến năm 2022, anh chính thức đầu tư nuôi lươn không bùn, một mô hình còn khá mới mẻ, đòi hỏi vốn lớn và kỹ thuật cao.

Khởi đầu, anh chỉ đầu tư 80 bể nuôi, mỗi bể rộng khoảng 6m². Tuy nhiên, ngay từ đầu, mô hình đã được xây dựng bài bản: Từ xử lý nguồn nước, thiết kế bể, mật độ thả nuôi, đến quy trình chăm sóc và phòng bệnh. Nhờ đó, đàn lươn sinh trưởng ổn định, tỷ lệ sống cao, ít phát sinh dịch bệnh, mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt.

“Nuôi lươn không bùn không phải cứ có giống tốt là thành công. Quan trọng nhất là kiểm soát môi trường nuôi và chăm sóc đúng kỹ thuật”, anh Thọ chia sẻ.

lươn 4 (2)
Trại lươn được xây dựng hệ thống bể nuôi khoa học. Ảnh: XH

Thấy hướng đi phù hợp, sau mỗi vụ nuôi thành công, anh Thọ tiếp tục tái đầu tư, từng bước mở rộng quy mô. Số lượng bể nuôi tăng dần qua các năm. Đến nay, trang trại đã phát triển lên gần 300 bể, tổng diện tích nuôi thương phẩm khoảng 1.800m², quy mô lớn đối với một mô hình nuôi lươn ứng dụng kỹ thuật cao.

Theo anh Thọ, do mật độ thả nuôi cao, bình quân khoảng 1.000 con/m², việc thay nước hằng ngày là yêu cầu bắt buộc. Mỗi ngày, các bể nuôi phải thay nước 3 lần để duy trì môi trường sạch, hạn chế ô nhiễm và stress cho lươn. Đồng thời, người nuôi phải theo dõi sát diễn biến thời tiết, nhất là những đợt nắng nóng hoặc rét đậm, để điều chỉnh lượng thức ăn và thời gian cho ăn phù hợp.

lươn 6
Lươn nuôi không bùn luôn được chăm sóc đúng kỹ thuật. Ảnh: XH

Bên cạnh nuôi thương phẩm, anh Thọ còn dành diện tích hàng trăm mét vuông xây dựng khu nuôi lươn sinh sản và ươm giống. Với quy trình chọn lọc và kích thích sinh sản được nghiên cứu kỹ lưỡng, mỗi năm trại sản xuất ra hàng triệu con lươn giống chất lượng cao. Nhờ đó, không chỉ chủ động hoàn toàn nguồn giống cho hệ thống bể nuôi của gia đình, anh còn cung ứng giống cho nhiều cơ sở nuôi lươn trên địa bàn tỉnh.

Một trong những bài toán lớn nhất của nghề nuôi lươn là đầu ra sản phẩm. Thực tế cho thấy, nếu chỉ bán lươn sống cho thương lái, người nuôi dễ rơi vào tình trạng “được mùa, mất giá”. Nhận thức rõ điều đó, anh Thọ đã lựa chọn hướng đi dài hạn thông qua việc thành lập và tham gia Hợp tác xã Nông nghiệp sạch.

lươn 4 (1)
Mật độ nuôi dày trong mỗi bể xi măng không bùn. Ảnh: XH

Thay vì chỉ bán lươn nguyên con, hợp tác xã tiến hành sơ chế, chế biến thành các sản phẩm có giá trị gia tăng cao như lươn phi lê, lươn sấy, lươn bỏ ruột hút chân không… đáp ứng yêu cầu khắt khe của thị trường.

Nhờ chủ động được khâu chế biến và tiêu thụ, mỗi năm hợp tác xã có khả năng cung ứng ra thị trường khoảng 200 tấn lươn thương phẩm, tạo việc làm thường xuyên cho khoảng 10 lao động địa phương. Hiện nay, sản phẩm lươn của hợp tác xã đã tham gia xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc và đang hướng tới mở rộng sang Hàn Quốc thông qua liên kết với các doanh nghiệp.

Tuy nhiên, theo anh Thọ, nghề nuôi lươn không bùn hiện vẫn đối mặt nhiều thách thức. Bên cạnh nguy cơ dịch bệnh phát sinh trong quá trình nuôi, biến động giá cả thị trường đang là áp lực lớn đối với người nuôi. Cuối năm 2025, giá lươn thương phẩm dao động 90.000 – 100.000 đồng/kg, song từ đầu năm 2026 đến nay đã giảm sâu, chỉ còn khoảng 60.000 – 70.000 đồng/kg. Mức giá này không đủ bù đắp chi phí con giống, thức ăn và nhân công, khiến nhiều hộ nuôi gặp khó trong việc duy trì sản xuất.

lươn 2 (2)
Lươn không bùn đến kỳ xuất bán đạt trọng lượng trên 300g/con. Ảnh: XH

Cùng đó, việc xuất khẩu lươn vẫn còn không ít rào cản. Dù nhu cầu tiêu thụ lươn ở thị trường nước ngoài khá lớn, nhưng hợp tác xã còn gặp khó về thủ tục, điều kiện xuất khẩu chính ngạch. Việc chưa đủ “cốt” – tức năng lực pháp lý và điều kiện bắt buộc để trực tiếp xuất khẩu, khiến hợp tác xã phải thông qua doanh nghiệp trung gian ngoài tỉnh, làm giảm tính chủ động và lợi nhuận.

“Chúng tôi rất mong các cơ quan chuyên môn sớm hỗ trợ hợp tác xã hoàn thiện hồ sơ, cấp mã và các điều kiện cần thiết để có thể trực tiếp xuất khẩu. Khi đó, người nuôi mới thực sự yên tâm đầu tư lâu dài”, anh Thọ kiến nghị.

Vì sao lươn xứ Nghệ có vị ngon riêng?

Với nhiều năm gắn bó nghề, anh Hồ Đức Thọ cho rằng lươn xứ Nghệ có những đặc điểm rất riêng, tạo nên sự khác biệt rõ rệt so với lươn nuôi ở nhiều vùng khác, nhất là khu vực miền Nam.

Yếu tố đầu tiên là khí hậu. Nghệ An có mùa Đông kéo dài khoảng 3 tháng, nhiệt độ xuống thấp khiến lươn giảm ăn, hạn chế vận động và gần như “ngủ Đông”. Điều này buộc người nuôi phải kéo dài thời gian nuôi từ 11–13 tháng cho mỗi lứa, thay vì chỉ 7–9 tháng như ở những vùng có khí hậu ấm quanh năm.

lươn 2 (1)
Con giống được sản xuất tại chỗ, đáp ứng nhu cầu của HTX và cung ứng ra một số trại lươn khác trong vùng. Ảnh: XH

Thời gian nuôi dài giúp lươn phát triển chậm nhưng chắc, thớ thịt săn, dai, vị đậm và thơm tự nhiên hơn. Đây cũng là lý do sản phẩm lươn xứ Nghệ được nhiều đối tác đánh giá cao, phù hợp với yêu cầu của thị trường xuất khẩu.

Bên cạnh đó, nguồn nước cũng là yếu tố then chốt. Nguồn nước giếng khoan tại nhiều vùng của Nghệ An tương đối ổn định, ít biến động, phù hợp với mô hình nuôi lươn không bùn. Nước sạch giúp lươn sinh trưởng đều, hạn chế dịch bệnh, giảm hao hụt và nâng cao chất lượng sản phẩm.

Từ một giáo viên rẽ hướng lập nghiệp đến chủ trang trại nuôi lươn không bùn quy mô lớn, anh Hồ Đức Thọ đã chứng minh rằng, nếu biết tận dụng lợi thế tự nhiên, làm chủ kỹ thuật và chủ động thị trường, nông nghiệp vẫn là lĩnh vực phát triển kinh tế tiềm năng.

Mô hình nuôi – chế biến – tiêu thụ lươn này không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế cao cho gia đình, tạo việc làm cho lao động địa phương, mà còn góp phần định hình thương hiệu lươn xứ Nghệ, mở ra hướng phát triển bền vững cho người nuôi lươn trên địa bàn tỉnh trong bối cảnh hội nhập và yêu cầu ngày càng cao của thị trường./.

0 0 0

Nổi bật Báo Nghệ An

Mới nhất

x
Nuôi lươn không bùn: Từ mô hình thử nghiệm đến hướng xuất khẩu
Google News
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO