Kiến tạo thương hiệu Nghệ An từ phương diện lịch sử, chính trị đặc biệt
Nhân dịp kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, Báo và phát thanh, truyền hình Nghệ An có cuộc trao đổi với bà Tôn Nữ Thị Ninh - Chủ tịch Quỹ Hòa bình và Phát triển TP. Hồ Chí Minh, nguyên Đại sứ Việt Nam bên cạnh EU, tại Bỉ và Luxembourg, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội.
.png)
Nhân dịp kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, Báo và phát thanh, truyền hình Nghệ An có cuộc trao đổi với bà Tôn Nữ Thị Ninh - Chủ tịch Quỹ Hòa bình và Phát triển TP. Hồ Chí Minh, nguyên Đại sứ Việt Nam bên cạnh EU, tại Bỉ và Luxembourg, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội. Với trải nghiệm phong phú và góc nhìn sắc sảo, bà phân tích những giá trị cốt lõi làm nên bản sắc ngoại giao Việt Nam: Từ sức mạnh mềm trong kháng chiến, nghệ thuật “dĩ bất biến, ứng vạn biến” cho đến việc phát huy vai trò văn hóa và con người trong hội nhập quốc tế. Đồng thời, bà cũng gợi mở hướng đi để Nghệ An phát huy lợi thế lịch sử và bản sắc riêng, nâng cao hiệu quả đối ngoại địa phương.
Nội dung: Phương Chi - Kỹ thuật: Diệp Thanh
.png)
P.V: Thưa bà, nhìn lại hành trình 80 năm đối ngoại Việt Nam, từ thời kỳ “ngoại giao chiến hào” đến giai đoạn chủ động hội nhập sâu rộng, bà cho rằng, điều gì đã làm nên bản sắc riêng có, giúp Việt Nam luôn giữ được thế chủ động và bản lĩnh giữa những đổi thay khôn lường của thế giới?
Bà Tôn Nữ Thị Ninh: Từ trong kháng chiến, chúng ta luôn luôn có 3 mặt trận: chính trị, quân sự, ngoại giao kết nối với nhau rất biện chứng, thường xuyên. Sự kết hợp đó được vận dụng một cách chủ động, bởi chúng ta có lẽ phải, có chính nghĩa, nhờ vậy mà tự tin; và chính sự tự tin ấy giúp ta càng chủ động hơn.
Trước đối thủ mạnh hơn ta gấp bội, điều đòi hỏi không chỉ là bản lĩnh, mà còn là sự tỉnh táo để nhận ra: Dù đối phương mạnh đến đâu cũng có những chỗ yếu mà ta có thể tấn công và khai thác; ngược lại, dù ta yếu như thế nào đi nữa nhưng vì đứng về phía lẽ phải và chính nghĩa, chúng ta có được những thế mạnh mà đối phương không thể có. Cho nên phải có bản lĩnh, không sợ đối phương khi chúng ta đứng trên đôi chân chính nghĩa của mình. Nhưng bản lĩnh thôi chưa đủ, cần phải có trí tuệ, có phương pháp, biết vận dụng thế mạnh của mình và khai thác những điểm yếu của đối phương.
.png)
Trong kháng chiến, ta thường có câu “sức mạnh của dân tộc kết hợp với sức mạnh của thời đại”. “Thời đại” ở đây là của toàn thế giới, sức mạnh của nhân dân tiến bộ và lực lượng yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới, kể cả ngay trong lòng nước đối phương. Như thế, chúng ta biết phát huy tinh thần đoàn kết quốc tế, chống chiến tranh, vì hòa bình; tập hợp và xây dựng lực lượng tiến bộ ủng hộ ta, biến thế yếu khách quan thành sức mạnh của lẽ phải, chính nghĩa, thế chủ động và bản lĩnh.
Chính nhờ tập hợp và phát huy sức mạnh đó, Việt Nam đã xây dựng được “sức mạnh mềm” của mình ngay từ thời kháng chiến. Khi còn thiếu thốn vũ khí, thua kém về vật chất thì sức mạnh mềm đã trở thành nguồn lực quan trọng giúp ta giành thắng lợi, làm cho cộng đồng quốc tế thấy rõ, đối phương tuy mạnh về quân sự, vũ khí, nhưng lại yếu về chính nghĩa và lẽ phải, lập trường dưới con mắt của cộng đồng thế giới. Sức mạnh mềm Việt Nam đã được phát huy trong thời chiến như thế nào để mang lại hòa bình, đó là một câu chuyện nên được kể, lưu giữ và tiếp tục phát huy trong thời đại ngày nay.
.png)
P.V: Trong bối cảnh trật tự toàn cầu đang chuyển động mạnh mẽ, các hệ giá trị bị va đập và quyền lực đang tái phân bổ, bà đánh giá thế nào về vai trò và nghệ thuật “dĩ bất biến ứng vạn biến” của ngoại giao Việt Nam trong việc gìn giữ lợi ích quốc gia mà vẫn duy trì được uy tín, sự tôn trọng từ các đối tác quốc tế?
Bà Tôn Nữ Thị Ninh: Nguyên tắc “dĩ bất biến, ứng vạn biến” đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh căng thẳng hay khủng hoảng. Điều quan trọng nhất là phải xác định rõ lợi thế của bản thân, trả lời được câu hỏi: Những thế mạnh của ta trong căng thẳng, khủng hoảng là gì? Từ đó, tìm và tạo dựng cơ hội.
Cần nhấn mạnh rằng, cơ hội không bao giờ có sẵn một cách đầy đủ để ta chỉ việc nắm lấy. Khi đã xác định được hướng đi và lĩnh vực có thể tạo ra lợi thế, chúng ta phải chủ động tạo dựng, bồi đắp điều kiện để cơ hội đó trở thành hiện thực.
.png)
Nói cách khác, cơ hội chỉ thực sự hình thành khi có tầm nhìn chiến lược, bản lĩnh lãnh đạo và sự chuẩn bị cần thiết để phát huy. Để biến cơ hội thành sức mạnh sống động, phải có trí tuệ, bản lĩnh và sự hiểu biết thấu đáo cả về bản thân lẫn đối phương. Cần đặt lợi thế và hạn chế của ta trong sự so sánh với lợi thế và hạn chế của đối phương, từ đó mới có thể hoạch định chiến lược hành động đúng đắn. Kinh nghiệm từ các cuộc kháng chiến của dân tộc trong thế kỷ XX cho thấy: Chúng ta đã biết vận dụng linh hoạt “ứng vạn biến” trên cơ sở của “dĩ bất biến”. Cái “bất biến” chính là nguyên tắc về độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ.
Trong bối cảnh hiện nay, chính sách quốc phòng “4 không” của Việt Nam (không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc - P.V) chính là sự thể hiện rõ nét nguyên tắc “dĩ bất biến”, tôi cho rằng, chúng ta nên giữ để nó trở thành kim chỉ nam bất di, bất dịch, giữ nguyên tắc độc lập chủ quyền.
Trên cơ sở đó, chúng ta linh hoạt ứng phó với các mối nguy, đồng thời, xác định và tận dụng những cơ hội phù hợp. 4 trụ cột trong chính sách này mang tầm nhìn chiến lược rất vững chắc, làm cơ sở cho việc triển khai chính sách đối ngoại của Việt Nam đầu thế kỷ XXI.
.png)
P.V: Được biết, trong thời gian đảm nhiệm vị trí Đại sứ Việt Nam tại Bỉ và Luxembourg (2000 - 2003), bà đã khởi xướng nhiều hoạt động ngoại giao văn hóa để giới thiệu một Việt Nam sâu sắc và sống động. Theo bà, hiện nay, chúng ta cần làm gì để văn hóa thực sự là vũ khí tâm công sắc bén, góp phần hoàn thành mục tiêu đối ngoại?
Bà Tôn Nữ Thị Ninh: Về vai trò của văn hóa trong ngoại giao, có thể thấy rõ ràng ngoại giao có mấy chân: Luôn phối hợp nhịp nhàng với mặt trận quân sự trong kháng chiến, đồng thời, gắn kết chặt chẽ với mặt trận chính trị, đối nội kịp thời. Khi phát huy thêm chiều kích văn hóa, ngoại giao càng có điều kiện đóng góp hiệu quả, thuyết phục vào sức mạnh mềm của Việt Nam.
Điều quan trọng là cần hiểu “văn hóa” ở đây không chỉ đơn thuần là biểu diễn nghệ thuật hay công nghiệp giải trí như Hàn Quốc đã thành công tạo nên sức mạnh mềm cho quốc gia này, mà đối với Việt Nam, không thể vận dụng như thế, mà phải vận dụng khác. Đặc biệt, không thể nói đến văn hóa Việt Nam mà tách rời lịch sử. Lịch sử chính là một bộ phận không thể tách rời văn hóa, là nền tảng tạo nên thương hiệu quốc gia, bản sắc và căn tính Việt Nam.

Khi đánh giá đóng góp của ngoại giao Việt Nam, cần đặt yếu tố văn hóa trong mối liên hệ với tổng thể, mà cốt lõi chính là con người. Tại “Diễn đàn Việt Nam: Thời khắc Việt” do Quỹ Hòa bình và Phát triển TP.Hồ Chí Minh tổ chức vào tháng 8/2024, tôi đã khẳng định: “Vốn quý lớn nhất của Việt Nam chính là con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam”. Khi triển khai ngoại giao văn hóa, chúng ta cũng phải dựa vào điều đó để chiếu sáng vào sự khác biệt của con người Việt.
Tôi từng nghe một podcast giới thiệu về Việt Nam, trong đó, điều đầu tiên mà một khách nước ngoài có chiều sâu suy nghĩ và hiểu biết, nét đầu tiên khi nhắc đến Việt Nam là “singularity”, tức là sự độc nhất, khác biệt. Chính sự độc đáo ấy cần được thể hiện trong chiều kích văn hóa và ngoại giao văn hóa.

Một đặc điểm khác của Việt Nam là sự sống động của xã hội và lối sống. Mỗi quốc gia đều có những nét đặc trưng riêng; trong đó, Việt Nam lại nổi bật bởi nhịp sống sôi động là nét nổi trội. Đó là ấn tượng chung tác động mạnh mẽ vào nhận thức và giác quan với bạn bè quốc tế. Khi chúng ta đưa chiều kích văn hóa vào triển khai ngoại giao thì tôi nghĩ nên nhớ đến nét đặc thù đó của căn tính Việt, nó góp phần vào “singularity” của Việt Nam.
Cũng cần nhấn mạnh đến sự đa dạng văn hóa của Việt Nam. Với 54 dân tộc anh em, trong đó, 53 dân tộc thiểu số, đất nước ta sở hữu một nền văn hóa đa sắc màu, phong phú và độc đáo. Sự đa dạng này không phải là hạn chế, càng không phải là thứ bị bỏ quên trong “góc phòng” hay trong nhận thức quốc gia, mà ngược lại, đó chính là một vốn quý. Chúng ta phải phát huy sự đa dạng của văn hóa các dân tộc Việt Nam, coi đây là một nguồn lực trong quảng bá văn hóa đối ngoại.
Trên cơ sở giữ vững bản sắc dân tộc, đồng thời, mở rộng giao lưu và hội nhập, dung hòa được 2 yếu tố ấy, tôi cho rằng, tương đối ổn thỏa, uyển chuyển và hiệu quả.

P.V: Đối ngoại địa phương ngày càng giữ vai trò thiết thực trong thu hút đầu tư, quảng bá hình ảnh và thúc đẩy hợp tác quốc tế. Riêng với Nghệ An, bà có thể chia sẻ khuyến nghị để tỉnh phát huy hiệu quả vai trò của đối ngoại trong quá trình hội nhập?
Bà Tôn Nữ Thị Ninh: Về đối ngoại địa phương, tôi thấy đây là ý thú vị, đáng để suy nghĩ và khai thác, là lĩnh vực đầy hứa hẹn. Tôi chưa dám khẳng định đã thành công rộng khắp, nhưng tiềm năng là rất lớn, bởi xuất phát từ sự đa dạng, độc đáo và sức sống phong phú của các địa phương Việt Nam.
Tôi thấy ví dụ là tỉnh Ninh Bình (trước khi sáp nhập) đã triển khai khá bài bản việc xây dựng thương hiệu địa phương để không chỉ thu hút du khách mà cả nhà đầu tư. Điều này gợi mở rằng, thương hiệu quốc gia là tổng thể, nhưng chính từng địa phương, từng tổ chức, thành phần xã hội đều có thể đóng góp vào bức tranh tổng thể đó, muôn màu, muôn vẻ của Việt Nam.
.png)
Nêu câu hỏi đó với Nghệ An thì nên có đề án. Với Nghệ An, theo tôi, có nhiều thuận lợi, là quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh, điều đó mang lại một phương diện lịch sử, chính trị vô cùng đặc biệt, và cần xác định thêm những giá trị khác trên hành trình xây dựng thương hiệu địa phương.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, nhiều quốc gia đã có những thương hiệu địa phương nổi bật: Hàn Quốc có Busan, Nhật Bản có Kyoto, Trung Quốc có Thượng Hải, Mỹ có Silicon Valley hay Hollywood…
Việc này đối với Nghệ An chắc chắn không đơn giản nhưng hoàn toàn cần thiết và khả thi nếu có tư duy chiến lược. Tôi khuyên các bạn Nghệ An nên tham khảo kinh nghiệm từ Ninh Bình. Tôi đã đọc qua một đề án của Ninh Bình, thấy họ mạnh dạn, sáng tạo. Xin chúc Nghệ An triển khai một đề án đối ngoại địa phương mới mẻ, hiệu quả và mang dấu ấn riêng.
P.V: Trân trọng cảm ơn bà!
.png)
Bà Tôn Nữ Thị Ninh sinh năm 1947 tại Huế, là hậu duệ hoàng tộc nhà Nguyễn, nhà ngoại giao kỳ cựu của Việt Nam với hơn 40 năm hoạt động trong lĩnh vực ngoại giao, đối ngoại; từng đảm nhiệm vị trí Đại sứ Việt Nam tại Bỉ và Luxembourg và bên cạnh EU, giai đoạn 2000 - 2003 và khởi xướng nhiều hoạt động ngoại giao văn hóa.
Từ năm 2003 đến năm 2007, trên cương vị Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội, bà tham gia các vấn đề về nhân quyền và thúc đẩy tiến trình “bình thường hóa” và cải thiện quan hệ với cộng đồng người Việt ở nước ngoài.
Bà được trao tặng nhiều Huân chương trong và ngoài nước, bao gồm: Huân chương Lao động hạng Nhất của Chính phủ Việt Nam (2008), Huân chương Bắc Đẩu Bội tinh của Chính phủ Pháp (1998 và 2013, bậc Chỉ huy) và Huân chương Leopold II của Chính phủ Bỉ (2003).
Hiện, bà là Chủ tịch Quỹ Hòa bình và Phát triển TP. Hồ Chí Minh.