Đại biểu Quốc hội đoàn Nghệ An thảo luận chính sách thuế hỗ trợ nông nghiệp
Sáng 8/12, Quốc hội thảo luận dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng (GTGT).

Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An thảo luận tại Tổ 7 cùng đoàn Lâm Đồng. Đồng chí Võ Thị Minh Sinh - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Nghệ An chủ trì, điều hành phiên thảo luận.
Tại phiên thảo luận tổ về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế GTGT, nhiều ý kiến tập trung xoay quanh ba nhóm nội dung lớn mà Chính phủ trình Quốc hội xem xét.
Trọng tâm thảo luận nằm ở việc đưa các sản phẩm nông nghiệp chưa chế biến vào diện không phải tính thuế GTGT nhưng được khấu trừ đầu vào. Cơ chế này thực tế đã được áp dụng ổn định từ năm 2014 đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã trong khâu mua bán nông sản thô.
Bà Nguyễn Vân Chi - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội nhấn mạnh bản chất vấn đề không phải cái mới mà là lựa chọn chính sách.
Theo bà, có hai phương án chính: Phương án thứ nhất đã áp dụng giai đoạn 2016 - 2024, coi nông sản chưa chế biến ở khâu thương mại là đối tượng không chịu thuế đầu ra, nhưng cho phép doanh nghiệp được khấu trừ đầu vào. Đây là một cơ chế đặc thù, thậm chí “đối xử tốt hơn khâu sản xuất”, bởi người sản xuất bán nông sản chưa chế biến cũng không phải nộp thuế nhưng cũng không được khấu trừ. Mô hình này ra đời chủ yếu nhằm mục tiêu quản lý: Giảm gian lận hoàn thuế khi xuất khẩu nông sản.
Khi đầu ra được coi là không chịu thuế, doanh nghiệp không phải xuất hóa đơn VAT, từ đó giảm nguy cơ lập hóa đơn giả để xin hoàn thuế. Nhưng đi kèm mục tiêu quản lý là các “tác dụng phụ có lợi” là doanh nghiệp bớt áp lực dòng tiền, không phải ứng vốn nộp thuế rồi chờ hoàn; thủ tục cũng nhẹ nhàng hơn.

Phương án thứ hai, được lựa chọn khi sửa luật năm 2024 là đưa nông sản chưa chế biến ở khâu thương mại quay trở lại diện chịu thuế GTGT 5%, đồng thời cho khấu trừ đầu vào. Đây là chính sách đúng theo nguyên tắc thuế GTGT: Có thu đầu ra thì mới được khấu trừ đầu vào.
Phương án này giúp thu đúng phần giá trị tăng thêm ở khâu thương mại, đồng thời phân bổ nguồn thu cho các địa phương sản xuất, ví dụ như các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. Nếu coi khâu thương mại không chịu thuế, thuế GTGT chỉ phát sinh ở khâu tiêu dùng cuối cùng, khiến các địa phương sản xuất mất nguồn thu đáng kể.
Tuy nhiên, phương án này cũng có những “mặt trái” đã được nêu rất rõ: Doanh nghiệp phải nộp 5% VAT ở khâu mua vào rồi chờ hoàn khi xuất khẩu, dẫn đến tăng áp lực vốn, thậm chí phải vay ngân hàng, phát sinh chi phí lãi vay. Thủ tục hoàn thuế hiện nay lại chậm, đã từng được Ủy ban Tài chính - Ngân sách (trước đây) nay là Ủy ban Kinh tế - Tài chính giám sát và chỉ ra nhiều vướng mắc.
Bà Nguyễn Vân Chi cho rằng, năm 2024, Quốc hội lựa chọn phương án chịu thuế là hợp lý trong bối cảnh đó, nhưng đến năm 2025, tình hình kinh tế - xã hội có nhiều biến động: Thiên tai, lũ lụt kéo dài, doanh nghiệp xuất khẩu nông sản gặp khó, cần xem xét lại mức độ ưu tiên chính sách. Nếu mục tiêu lúc này là “không tăng thêm áp lực dòng vốn cho doanh nghiệp”, thì việc quay lại mô hình 2016 - 2024 là hoàn toàn hợp lý.
Đại biểu cũng đặc biệt lưu ý một điểm gây hiểu lầm, có ý kiến cho rằng, luật năm 2024 phân biệt đối xử giữa hàng sản xuất trong nước và hàng nhập khẩu. Bà khẳng định đây là nhận định không đúng, bởi mọi phương án đều phải tuyệt đối tuân thủ nguyên tắc đối xử quốc gia theo các cam kết quốc tế của Việt Nam và luật không có quy định nào vi phạm nguyên tắc này.
Nội dung thứ hai Chính phủ trình là lược bỏ quy định liên quan đến việc áp dụng thuế suất cho nông sản thô được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi. Lý do là sự bất cập hiện nay: Thức ăn chăn nuôi nhập khẩu không chịu thuế, trong khi thức ăn chăn nuôi sản xuất trong nước lại đang “gánh” 5% thuế đầu vào, làm tăng giá thành.
Tuy nhiên, theo đại biểu Nguyễn Vân Chi, đây là vấn đề “rất đơn giản về mặt kỹ thuật”. Nếu nội dung thứ nhất, đưa nông sản chưa chế biến vào diện không chịu thuế được thông qua thì mọi vướng mắc của nội dung thứ hai “tự động được giải quyết”.
Bên cạnh đó, dự án sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế GTGT đã đưa ra nội dung lược bỏ quy định tại Luật Thuế GTGT năm 2024, theo đó, người mua chỉ được hoàn thuế khi người bán đã kê khai và nộp thuế.
Quy định này, dù ra đời nhằm phòng chống gian lận, trên thực tế lại gây khó khăn cho doanh nghiệp, đặc biệt doanh nghiệp xuất khẩu, bởi họ phải chờ xác nhận người bán đã nộp thuế mới được kê khai hoàn. Điều này tạo rủi ro pháp lý và kỹ thuật, bởi doanh nghiệp không có công cụ để kiểm tra tình trạng tuân thủ thuế của người bán. Nhiều ý kiến cho rằng, quy định này chưa phù hợp với nguyên tắc trách nhiệm độc lập giữa người mua và người bán.
Đại biểu Nguyễn Vân Chi nhấn mạnh đây là vấn đề quan trọng nhất trong sửa đổi. Luật năm 2024 quy định doanh nghiệp kê khai hoàn thuế chỉ khi nhà cung cấp đã nộp thuế GTGT. Thực tế, quy định này xuất phát từ việc có những doanh nghiệp gian lận: xuất hóa đơn nhưng không có hàng, hoặc doanh nghiệp bỏ trốn sau khi nhận hóa đơn, dẫn đến thuế không được nộp vào ngân sách. Nếu không có điều kiện kiểm tra này, ngân sách sẽ phải ứng tiền hoàn thuế cho các hóa đơn bất hợp pháp, gây rủi ro lớn cho ngân sách và cán bộ thuế.

Tuy nhiên, quy định cũng tạo bất lợi cho doanh nghiệp hợp pháp. Một số nhà cung cấp nộp thuế chậm hoặc theo quý, trong khi doanh nghiệp mua đã kê khai hoàn thuế hợp pháp. Trong trường hợp này, ngân sách phải ứng tiền trước khi thuế của người bán thực sự vào ngân sách, không phù hợp với nguyên tắc quản lý tài chính.
Tuy nhiên, vị đại biểu đoàn Nghệ An cho rằng, cần giải quyết vướng mắc tại nguồn như đồng bộ thời điểm nộp thuế của người bán và thời điểm kê khai hoàn thuế của người mua, để quá trình hoàn thuế diễn ra thuận lợi và hợp pháp.
Một giải pháp quan trọng khác là tận dụng cơ chế điện tử hóa hiện nay để doanh nghiệp có thể đối soát hóa đơn và đánh giá trách nhiệm của nhà cung cấp. Doanh nghiệp cần cơ chế kiểm tra mức độ tuân thủ thuế của người bán, từ đó lựa chọn nhà cung cấp đáng tin cậy. Đây là biện pháp vừa bảo vệ ngân sách, vừa tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, thay vì bỏ điều kiện hoàn thuế sẽ làm tăng rủi ro gian lận và trách nhiệm liên đới cho cán bộ thuế.
Đại biểu nhấn mạnh, việc sửa đổi cần hướng đến vừa hỗ trợ doanh nghiệp, vừa đảm bảo nguyên tắc quản lý ngân sách và trách nhiệm pháp lý. Các quy định về quản lý thuế chủ yếu là về thủ tục, không thể thay thế hiệu quả của chính sách được quy định trong luật.
Do đó, sửa đổi Luật GTGT cần tập trung giải quyết đúng vướng mắc tại khâu tổ chức thực hiện, đồng bộ thời điểm nộp và hoàn thuế, tạo cơ chế đối soát minh bạch, chứ không đơn thuần là bỏ điều kiện hoàn thuế. Đây là cách vừa đảm bảo quyền lợi doanh nghiệp, vừa bảo vệ ngân sách và nâng cao hiệu quả quản lý thuế.