Kinh tế

Khai mở “kho báu carbon” từ rừng và lúa:Kỳ 3: Những “nút thắt” cần tháo gỡ

Nhóm Phóng viên 25/03/2026 09:52

Việc chuyển hóa giá trị hấp thụ carbon của rừng thành nguồn lợi kinh tế không chỉ là câu chuyện môi trường, mà còn là bước đi quan trọng trong tiến trình hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế xanh. Khi giá trị của rừng và lúa được định lượng bằng tín chỉ carbon, người dân giữ rừng không chỉ góp phần bảo vệ “lá phổi xanh” của Trái Đất mà còn có thêm nguồn sinh kế bền vững. Tuy nhiên, để cơ chế này thực sự phát huy hiệu quả, nhiều vướng mắc trong cơ chế và tổ chức thực hiện vẫn cần được tháo gỡ.

cover-tieude-ky3.png

Nhóm Phóng viên / Trình bày: Hồng Toại • 25/03/2026

*****

Việc chuyển hóa giá trị hấp thụ carbon của rừng thành nguồn lợi kinh tế không chỉ là câu chuyện môi trường, mà còn là bước đi quan trọng trong tiến trình hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế xanh. Khi giá trị của rừng và lúa được định lượng bằng tín chỉ carbon, người dân giữ rừng không chỉ góp phần bảo vệ “lá phổi xanh” của Trái Đất mà còn có thêm nguồn sinh kế bền vững. Tuy nhiên, để cơ chế này thực sự phát huy hiệu quả, nhiều vướng mắc trong cơ chế và tổ chức thực hiện vẫn cần được tháo gỡ.

titphu1(1).png

Nếu rừng là “bể hấp thụ” carbon, thì đồng lúa lại là nơi có thể cắt giảm đáng kể nguồn phát thải methane - một trong những loại khí nhà kính có tác động mạnh tới biến đổi khí hậu. Cả hai lĩnh vực đều gắn trực tiếp với sinh kế của người dân nông thôn, miền núi - những nhóm dễ bị tổn thương nhất trước tác động của biến đổi khí hậu. Khi các chính sách giảm phát thải mang lại lợi ích kinh tế cụ thể, quá trình chuyển đổi sang mô hình phát triển xanh sẽ diễn ra bền vững hơn.

Trong lộ trình giảm phát thải khí nhà kính, xây dựng và vận hành thị trường carbon được xem là công cụ kinh tế quan trọng để thúc đẩy các hoạt động cắt giảm phát thải. Thay vì chỉ dựa vào các quy định hành chính, cơ chế thị trường cho phép định giá lượng phát thải khí nhà kính thông qua việc mua bán hạn ngạch và tín chỉ carbon. Qua đó, các doanh nghiệp và tổ chức có thêm động lực đầu tư công nghệ sạch, tiết kiệm năng lượng và giảm lượng phát thải trong hoạt động sản xuất. Vừa qua, Nghệ An đã bán được tín chỉ carbon với giá 5 đô la/tín chỉ, mở ra một hướng mới, tiềm năng mới.

nen-rung.png

Ở Việt Nam, định hướng phát triển thị trường carbon đã được đặt ra trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020. Theo lộ trình của Bộ Tài nguyên và Môi trường, thị trường carbon trong nước sẽ được thí điểm từ năm 2025 và từng bước vận hành chính thức trong các năm sau. Khi đó, các doanh nghiệp thuộc nhóm phát thải lớn sẽ được phân bổ hạn ngạch phát thải. Nếu phát thải thấp hơn mức được cấp, doanh nghiệp có thể bán phần dư dưới dạng tín chỉ carbon; ngược lại, nếu phát thải vượt hạn ngạch, họ phải mua thêm tín chỉ từ các đơn vị dư tín chỉ hoặc đầu tư các giải pháp giảm phát thải để đạt Net Zero.

Từ nguồn kinh phí giảm phát thải cacbon, rừng Nghệ An được bảo vệ tốt hơn. Ảnh SN
Từ nguồn kinh phí giảm phát thải carbon, rừng Nghệ An được bảo vệ tốt hơn. Ảnh: Sách Nguyễn

Tuy nhiên, việc hình thành thị trường carbon cũng đặt ra không ít thách thức. Một trong những yêu cầu quan trọng là phải xây dựng được hệ thống kiểm kê, đo đạc và xác minh phát thải minh bạch, chính xác. Đây là cơ sở để xác định hạn ngạch phát thải cũng như đảm bảo tính tin cậy của các tín chỉ carbon được giao dịch trên thị trường. Bên cạnh đó, khung pháp lý, cơ chế vận hành thị trường và năng lực tham gia của doanh nghiệp vẫn cần tiếp tục hoàn thiện.

Nếu những vấn đề này được giải quyết, thị trường carbon không chỉ là công cụ thực hiện các cam kết khí hậu mà còn mở ra cơ hội khai thác giá trị kinh tế từ các hoạt động hấp thụ carbon như rừng và nông nghiệp.

Thu hái hoa cúc ở Mường. Ảnh:
Thu hái hoa cúc ở Mường Lống. Ảnh: Trân Châu

Mặc dù mang lại nhiều tín hiệu tích cực, cơ chế chi trả giảm phát thải từ rừng vẫn đang tồn tại không ít hạn chế. Theo các chuyên gia lâm nghiệp, những khu rừng có độ che phủ lớn, sinh khối cao và cây rừng lâu năm sẽ hấp thụ lượng carbon nhiều hơn so với rừng trồng hoặc rừng non. Tuy nhiên, hiện nay mức hỗ trợ vẫn chủ yếu được tính bình quân theo diện tích, chưa phản ánh đúng sự khác biệt về chất lượng rừng.

Những cánh rừng mang lại thu nhập cho người dân ảnh QA
Những cánh rừng mang lại thu nhập cho người dân. Ảnh: Q.A

Ông Nguyễn Văn Liên – Giám đốc Lâm trường Quỳ Hợp cho biết, đơn vị đang quản lý khoảng 4.000 ha rừng tự nhiên. Nếu được áp dụng đầy đủ cơ chế chi trả giảm phát thải, mỗi năm lâm trường có thể nhận gần 2 tỷ đồng để phục vụ công tác quản lý và bảo vệ rừng. Tuy nhiên, trên thực tế, mức hỗ trợ hiện nay vẫn còn thấp so với nhu cầu. Theo ông Nguyễn Văn Sinh – Giám đốc Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt, chi phí thực tế để bảo vệ và chăm sóc một ha rừng tự nhiên khoảng 2 triệu đồng mỗi năm, trong khi mức hỗ trợ hiện tại chỉ khoảng 500 nghìn đồng/ha. Khoản hỗ trợ này chưa đủ bù đắp chi phí tuần tra, bảo vệ và phục hồi rừng, nhất là tại những khu vực rừng tự nhiên có địa hình phức tạp.

Mô hình hỗ trợ sinh kế tại xã Hùng Chân ảnh QA
Mô hình hỗ trợ sinh kế tại xã Hùng Chân. Ảnh: Q.A

Một bất cập khác nằm ở quy định về đối tượng thụ hưởng. Nhiều đơn vị quản lý rừng được giao nhiệm vụ tổ chức thực hiện chi trả giảm phát thải nhưng bản thân đơn vị lại không được nhận nguồn hỗ trợ này do cán bộ, viên chức đã hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Vì vậy, kinh phí chủ yếu chỉ được chi trả cho các hộ dân hoặc cộng đồng nhận khoán bảo vệ rừng.

Trong thực tế, quy định này đã dẫn tới tình trạng một phần kinh phí không thể giải ngân hết. Đến hết năm 2025, gần 25 tỷ đồng từ nguồn giảm phát thải phải hoàn trả lại do không xác định được đối tượng thụ hưởng phù hợp theo quy định.

Chi trả tiền hỗ trợ sinh kế và khoán bảo vệ rừng cho người dân miền Tây ảnh PV
Chi trả tiền hỗ trợ sinh kế và khoán bảo vệ rừng cho người dân miền Tây. Ảnh: P.V

Bên cạnh đó, quy định “không trùng nguồn chi trả” cũng đang trở thành rào cản đối với nhiều địa phương. Theo quy định hiện hành, những diện tích rừng đã nhận tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng từ các nhà máy thủy điện sẽ không được nhận thêm hỗ trợ từ chương trình giảm phát thải. Điều này khiến một số khu vực có diện tích rừng lớn nhưng lại không thể tiếp cận thêm nguồn lực tài chính để nâng cao sinh kế cho người dân giữ rừng.

titphu2(1).png

Việc đo khí, thu mẫu, phân tích và tính toán tín chỉ carbon là những công việc khá phức tạp, hiện đang được các viện khoa học kỹ thuật triển khai, trong đó có Viện Khoa học Kỹ thuật nông nghiệp Bắc Trung Bộ. Các kỹ sư phối hợp với nông dân xây dựng mô hình, theo dõi chặt chẽ các khâu canh tác, quản lý nước và sinh trưởng của cây lúa. Hàng tuần, hàng tháng, họ trực tiếp xuống đồng kiểm tra và thu mẫu khí.

bna_lua.png
Kiểm tra lúa giảm phát thải ở xã Đô Lương; Đo mực nước trong lúa để tiêu hoặc thoát cho phù hợp trong quá trình thực hiện mô hình. Ảnh: Phú Hương - Trân Châu

Ông Phạm Duy An - Phó bộ môn Cây lương thực và Thực phẩm - Viện Khoa học Nông nghiệp Bắc Trung Bộ cho biết, quá trình này phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình lấy mẫu, đồng thời ghi nhận các chỉ tiêu sinh trưởng của cây lúa và điều kiện môi trường tại thời điểm lấy mẫu. Mẫu sau đó được đưa về phòng thí nghiệm để phân tích, xác định lượng khí phát thải.

nen(1).png

Mỗi thí nghiệm được bố trí hai ô ruộng: Một ruộng áp dụng kỹ thuật tưới ngập – khô xen kẽ và một ruộng canh tác theo phương thức truyền thống làm đối chứng. Sau khi phân tích khí methane từ hai ruộng, các nhà khoa học so sánh mức phát thải. Phần chênh lệch chính là lượng khí được cắt giảm nhờ áp dụng kỹ thuật mới. Lượng khí methane này tiếp tục được quy đổi sang CO₂ tương đương; số tấn CO₂ trên mỗi ha cũng chính là lượng tín chỉ carbon có thể hình thành.

Người dân gieo cấy theo phương thức truyền thống ảnh QA
Người dân gieo cấy theo phương thức truyền thống. Ảnh: Q.A

Tiến sĩ Vũ Duy Hoàng - giảng viên chính Khoa Nông học, Phó Giám đốc Trung tâm Sinh thái Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho biết, hiện nay có nhiều phương pháp để đo đạc và tính toán lượng phát thải cũng như mức giảm phát thải khí nhà kính trong sản xuất lúa, như sử dụng buồng thu mẫu kín, cảm biến tại hiện trường, ảnh viễn thám – vệ tinh, hoặc mô hình hóa dựa trên dữ liệu hoạt động và hệ số phát thải. Mỗi phương pháp có ưu và hạn chế riêng về chi phí, độ chính xác và phạm vi áp dụng. Trong thực tế, phương pháp phổ biến vẫn là sử dụng buồng kín để thu mẫu khí trực tiếp trên ruộng lúa. Mẫu thường được lấy định kỳ, khoảng 1 lần mỗi tuần, sau đó đưa về phòng thí nghiệm để phân tích nồng độ các khí phát thải. Từ các số liệu đo được cùng với những thông số liên quan, các nhà khoa học sẽ tính toán tổng lượng phát thải và quy đổi sang đơn vị CO₂ tương đương (CO₂e). Theo quy ước quốc tế, mỗi tấn CO₂e giảm phát thải được xác nhận tương ứng với một tín chỉ carbon.

Dù vậy, đối với các đơn vị phát thải như công nghiệp hay rừng, đo và xác nhận chỉ số vẫn cần chính xác minh bạch để thuyết phục.

Không chỉ trong lĩnh vực lâm nghiệp, quá trình giảm phát thải khí nhà kính trong nông nghiệp cũng đang gặp nhiều khó khăn. Đặc biệt, người trồng lúa – lực lượng trực tiếp tham gia các mô hình giảm phát thải – vẫn còn không ít băn khoăn khi phải thay đổi phương thức canh tác truyền thống. Các mô hình sản xuất lúa giảm phát thải như tưới ngập khô xen kẽ, giảm lượng phân bón hóa học hoặc tăng cường cơ giới hóa đã được triển khai tại nhiều địa phương. Những biện pháp này được đánh giá có khả năng giảm đáng kể lượng khí methane phát sinh từ ruộng lúa.

Tuy nhiên, do đang trong giai đoạn thí điểm, nhiều nông dân vẫn còn tâm lý e ngại khi thay đổi tập quán canh tác lâu nay. Việc thiếu thông tin cũng khiến quá trình chuyển đổi diễn ra chậm hơn so với kỳ vọng.

Dùng buồng đo khí thải carbon trên đồng lúa. Ảnh Phú Hương
Dùng buồng đo khí thải carbon trên đồng lúa. Ảnh: Phú Hương

Một rào cản khác trong việc triển khai các mô hình trồng lúa giảm phát thải là hạ tầng thủy lợi nội đồng. Phương pháp tưới ngập - khô xen kẽ được khuyến khích áp dụng để giảm phát sinh khí methane, tuy nhiên, việc thực hiện đòi hỏi khả năng điều tiết nước linh hoạt và cánh đồng bằng phẳng để “xiết” nước đúng thời điểm. Trong khi đó, tại nhiều địa phương hệ thống kênh mương vẫn chưa được đầu tư đồng bộ, một số nơi còn xuống cấp. Nông dân vì vậy khó chủ động cấp, thoát nước theo yêu cầu kỹ thuật. Bên cạnh đó, tình trạng ruộng đất manh mún cũng khiến việc điều tiết nước giữa các thửa ruộng thiếu đồng bộ.

Một khó khăn khác là cơ chế ghi nhận và chi trả lợi ích từ việc giảm phát thải trong sản xuất lúa vẫn chưa thực sự rõ ràng. Khác với rừng, nơi có thể xác định diện tích và lượng carbon hấp thụ tương đối ổn định thì lúa thay đổi chỉ số do phụ thuộc vào canh tác.

Ở thời điểm hiện tại, phần lớn nông dân tham gia mô hình vẫn chưa tiếp cận được các cơ chế khuyến khích tài chính cụ thể từ thị trường carbon. Họ chủ yếu đặt niềm tin vào các nhà khoa học và chính quyền địa phương khi tham gia mô hình, trong khi lợi ích kinh tế trực tiếp vẫn chưa được chi trả.

Người dân Nghệ An tập trung gieo cấy vụ Xuân sau Tết ảnh QA
Người dân Nghệ An tập trung gieo cấy vụ Xuân sau Tết. Ảnh: Q.A

Anh hùng Lao động Trần Mạnh Báo - Chủ tịch Tập đoàn ThaiBinh Seed - một tập đoàn trồng lúa giảm phát thải lớn ở Việt Nam cho biết: Để bán được tín chỉ carbon thuận lợi cần nối thị trường quốc tế và thị trường xuất khẩu ngày càng yêu cầu truy xuất nguồn gốc, chứng nhận bền vững và phát thải thấp, nên áp dụng tín chỉ carbon vừa bảo vệ môi trường càng tăng lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp.

Trong bối cảnh Việt Nam đang từng bước xây dựng thị trường carbon và triển khai các cam kết giảm phát thải khí nhà kính, những mô hình từ rừng và sản xuất lúa phát thải thấp ở Nghệ An cho thấy tiềm năng rất lớn nếu được tổ chức bài bản. Tuy nhiên, để biến tiềm năng này thành nguồn lực kinh tế thực sự, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách, nâng cao năng lực đo đạc và kiểm chứng phát thải, đồng thời đảm bảo lợi ích hài hòa cho các chủ rừng và người nông dân. Khi những “nút thắt” này được tháo gỡ, tài nguyên sinh thái sẽ trở thành một nguồn lực mới cho phát triển bền vững.

Rừng là tài nguyên quý báu cần được bảo vệ ảnh Đình Tuyên
Rừng là tài nguyên quý báu cần được bảo vệ. Ảnh: Đình Tuyên

------o0o------

(Còn nữa)

Nhóm Phóng viên