Học sinh 'né' Khoa học tự nhiên: Không chỉ là chuyện 'an toàn điểm số'
Phương Chi•31/03/2026 09:31
Những năm qua, số lượng thí sinh đăng ký dự thi các môn Khoa học tự nhiên (KHTN) trong kỳ thi tốt nghiệp THPT đang giảm rõ rệt, đặt ra nhiều lo ngại về nền tảng nhân lực khoa học - công nghệ trong tương lai.
Thực hiện: Phương Chi • 31/03/2026
*****
Những năm qua, số lượng thí sinh đăng ký dự thi các môn Khoa học tự nhiên (KHTN) trong kỳ thi tốt nghiệp THPT đang giảm rõ rệt, đặt ra nhiều lo ngại về nền tảng nhân lực khoa học - công nghệ trong tương lai. Đâu là nguyên nhân thực sự của xu hướng này, từ tâm lý người học, cách dạy - cách thi, hay những dấu hiệu đã được dự báo sớm ngay từ bậc học THCS? Phóng viên Báo và phát thanh, truyền hình Nghệ An trao đổi với TS. Đặng Văn Sơn - Nghiên cứu viên Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, nhà sáng lập các hoạt động cộng đồng về giáo dục STEM, nhằm làm rõ bản chất vấn đề và gợi mở những giải pháp mang tính căn cơ.
P.V:Từ số liệu học sinh đăng ký các môn thi tốt nghiệp THPT những năm gần đây, ông đánh giá mức độ “rời xa” các môn KHTN đang ở mức nào? Ông nghĩ đây là biến động nhất thời hay đã là một xu hướng đáng lo ngại?
TS Đặng Văn Sơn: Dựa trên số liệu thực tế, tôi nghĩ việc học sinh “rời xa” các môn KHTN là một thực trạng có tính hệ thống hơn là biến động nhất thời. Ngay từ trước Chương trình Giáo dục phổ thông 2018, khi các tổ hợp môn còn mang tính cố định, tỉ lệ đăng ký các môn KHTN đã thường xuyên thấp hơn Khoa học Xã hội (KHXH) khoảng 20%. Bước sang kỳ thi năm 2025 - dấu mốc đầu tiên của chương trình mới với cấu trúc chỉ 2 môn bắt buộc là Toán và Ngữ văn - sự chuyển dịch này càng trở nên rõ nét khi học sinh được quyền tự do lựa chọn các môn còn lại theo năng lực và mục tiêu cá nhân.
Thực tế cho thấy sự sụt giảm đáng kể ở môn Hóa học và Sinh học, trong khi các môn mới như Công nghệ hay Tin học vẫn chưa đủ sức hấp dẫn để trở thành ưu tiên hàng đầu của các em. Đây không phải là vấn đề cục bộ của Việt Nam mà là xu hướng chung trên toàn cầu, phản ánh sự thay đổi trong chiến lược tối ưu hóa điểm số và định hướng nghề nghiệp thực dụng của thế hệ trẻ.
Điều đáng quan ngại là sự chênh lệch này có xu hướng ngày càng nới rộng khoảng cách giữa các môn KHXH và môn KHTN, đây là cảnh báo quan trọng mà chúng ta có thể nhận thấy từ thực tế cũng như học các bài học từ các nước phát triển, để từ đó có các chính sách thúc đẩy giáo dục các môn STEM (Khoa học (Science), Công nghệ (Technology), Kỹ thuật (Engineering) và Toán học (Mathematics) như các nước phát triển để tránh sự thiếu hụt nhân lực STEM trong tương lai.
P.V:Thực tế cho thấy, ngay cả không ít học sinh có học lực khá cũng chủ động tránh các môn tự nhiên vì sợ rủi ro điểm số. Theo ông, quyết định này phản ánh năng lực học tập, tâm lý ngại khó, hay là các em đang tính toán cơ hội xét tuyển?
TS Đặng Văn Sơn: Tôi cho rằng quyết định này không đơn thuần phản ánh năng lực hay tâm lý ngại khó, mà thực chất là một chiến thuật tối ưu hóa cơ hội trong bối cảnh xét tuyển đại học hiện nay.
Số liệu thực tế từ kỳ thi Tốt nghiệp THPT hai năm qua cho thấy sự chênh lệch rõ rệt về độ an toàn điểm số: Năm 2024, điểm trung bình môn Địa lý đạt 7,19 với hơn 3.000 điểm 10, trong khi Vật lý chỉ đạt 6,67 với vẻn vẹn 55 điểm 10. Đến năm 2025, dù cấu trúc đề thi thay đổi, xu hướng này vẫn tiếp diễn khi môn Địa lý bùng nổ với gần 7.000 điểm 10, gấp hơn 10 lần so với môn Hóa học (625 điểm 10).
Khi các trường đại học, kể cả khối ngành STEM, mở rộng xét tuyển bằng các tổ hợp “lai” hoặc chấp nhận cả môn KHXH, học sinh có xu hướng chọn những môn dễ đạt điểm cao để làm đẹp học bạ và tăng tổng điểm xét tuyển. Đây là một lựa chọn lý tính khi các em ưu tiên mục tiêu đỗ đạt thay vì theo đuổi những môn học có rủi ro điểm số cao, dù đó là sở trường hay đam mê ban đầu.
Từ số liệu điểm thi cũng cho thấy một điều, các môn khối KHXH sẽ “dễ” học hơn so với các môn thuộc khối ngành STEM. Điều đó được thể hiện qua điểm thi kỳ thi tốt nghiệp THPT như trên. Mặc dù môn học nào cũng cần các năng lực riêng, nhưng rõ ràng, các môn thuộc khối KHXH vẫn được đánh giá là nhẹ hơn các môn KHTN và từ đó dẫn đến tâm lý ngại khó, ngoài việc tối ưu hóa cơ hội xét tuyển đại học.
Học sinh Trường THCS Lê Mao thuyết trình giới thiệu sản phẩm STEM. Ảnh tư liệu: Mỹ Hà
Ứng dụng STEM trong môn Vật lý tại Trường THPT Đô Lương 1. Ảnh tư liệu: Mỹ Hà
Giờ học STEM của học sinh Trường THCS Võ Liệt. Ảnh tư liệu: Mỹ Hà
P.V:Có ý kiến cho rằng một phần gốc rễ của vấn đề nằm ở cách dạy KHTN ngay từ bậc THCS còn nặng lý thuyết, thiếu trải nghiệm, khiến một bộ phận học sinh không thấy ý nghĩa thực tiễn. Tuy nhiên, cũng có ý kiến phản biện là ngay cả khi đổi mới phương pháp, nếu cấu trúc thi cử không thay đổi thì học sinh vẫn sẽ “né” tổ hợp KHTN. Theo ông, đâu là “nút thắt”?
TS Đặng Văn Sơn: Nút thắt thực sự không nằm riêng lẻ ở phương pháp giảng dạy hay cấu trúc đề thi, mà nằm ở sự thiếu đồng bộ giữa hai yếu tố này, tạo nên một vòng lặp “học gì thi nấy” rất khó tháo gỡ. Trong giáo dục phổ thông, mối quan hệ giữa “học để thi” hay “thi để học” vốn là một bài toán logic hóc búa; tuy nhiên, thực tế tại Việt Nam cho thấy kỳ thi vẫn đang đóng vai trò điều hướng việc dạy và học.
Dù chúng ta đã có nhiều nỗ lực đổi mới cách tiếp cận năng lực, nhưng nếu khâu đánh giá cuối cùng - đặc biệt là kỳ thi tốt nghiệp THPT - vẫn thiếu vắng các nội dung thực hành hoặc các câu hỏi đòi hỏi tư duy thực nghiệm thực thụ, thì học sinh sẽ mặc nhiên coi việc thực hành là không cần thiết. Khi bài thi chỉ thuần túy giải quyết trên giấy, các em sẽ ưu tiên những môn học có khả năng đạt điểm cao hơn với nỗ lực thấp hơn, thay vì dấn thân vào các môn KHTN vốn đòi hỏi sự đầu tư công phu về thí nghiệm và trải nghiệm.
Do đó, giải pháp không thể chỉ là thay đổi cách dạy đơn thuần, mà phải là sự chuyển đổi đồng bộ: Thi cử phải trở thành thước đo và động lực cho việc học thực chất, để “học đi đôi với hành” không còn là khẩu hiệu mà là yêu cầu bắt buộc để vượt qua các kỳ thi.
P.V:Trong khi các ngành công nghệ, kỹ thuật đang “khát” nhân lực thì nền tảng KHTNdường như lại bị thu hẹp. Ông nghĩ điều này nếu kéo dài sẽ để lại những hệ lụy gì cho thị trường lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia trong tương lai?
TS Đặng Văn Sơn: Sự lệch pha này không chỉ là vấn đề của thị trường lao động mà còn là một “điểm nghẽn” chiến lược đe dọa trực tiếp đến năng lực cạnh tranh quốc gia. Nhìn vào kinh nghiệm quốc tế, ngay từ đầu những năm 2000, cựu Tổng thống Mỹ Barack Obama đã xác định STEM là quốc sách để duy trì vị thế dẫn đầu của Mỹ thông qua việc thu hút nhân tài cả trong và ngoài nước; hay hiện nay, chính các trường đại học Hàn Quốc cũng đang nỗ lực giải cơn “khát” sinh viên kỹ thuật để bảo vệ nền tảng công nghệ của họ.
Nếu nền tảng KHTN của học sinh Việt Nam tiếp tục bị thu hẹp, chúng ta sẽ đối mặt với rủi ro đứt gãy nguồn cung nhân lực chất lượng cao cho các ngành mũi nhọn, khiến mục tiêu trở thành một cường quốc công nghệ trở nên khó khả thi. Bài học then chốt từ các nước phát triển cho thấy: Để bứt phá và bền vững, nguồn nhân lực nội tại chính là mấu chốt, và tôi cho rằng giáo dục STEM chính là “chìa khóa” quyết định khả năng làm chủ công nghệ cũng như sự tự chủ của nền kinh tế trong tương lai.
TS Đặng Văn Sơn trao đổi với các giáo viên trong một buổi tập huấn về STEM. Ảnh: NVCCTS Đặng Văn Sơn trình bày giáo trình dạy STEM. Ảnh: NVCCTS Đặng Văn Sơn trao đổi với các học sinh về phương pháp học STEM. Ảnh: NVCC
P.V:Nếu phải chỉ ra một giải pháp mang tính đòn bẩy, có thể tạo chuyển biến rõ rệt trong 3 - 5 năm tới để kéo học sinh quay lại với KHTN, thì ông nghĩ tới giải pháp nào? Vì sao?
TS Đặng Văn Sơn: Giải pháp đòn bẩy không nằm ở một chính sách đơn lẻ mà nằm ở việc xây dựng và hoàn thiện hệ sinh thái giáo dục STEM một cách đồng bộ. Tôi muốn nhấn mạnh rằng, không có “liều thuốc thần” nào có thể thay đổi cục diện chỉ sau một đêm; chúng ta cần một lộ trình thực chất và kiên trì với ba trụ cột chính: Đào tạo giáo viên là mấu chốt, chính sách là con đường và học sinh là đích đến.
Để tạo ra chuyển biến trong 3 - 5 năm tới, chúng ta phải thúc đẩy giáo dục STEM thực chất như một quốc sách, bắt đầu ngay từ bậc mầm non và tiểu học. Tại đây, triết lý “học thông qua làm” (learning by doing) phải được chuẩn hóa: Học sinh cần được trao cơ hội giải quyết các vấn đề thực tiễn, phát triển tư duy khoa học và năng lực thiết kế kỹ thuật thay vì chỉ ghi nhớ các định luật. Chúng ta cần dạy các em coi Toán học là một “công cụ vạn năng” để khám phá thế giới, đồng thời đề cao giá trị thực chất hơn là những hồ sơ thành tích mang tính hình thức.
Nút thắt quan trọng nhất chính là đội ngũ giáo viên. Họ chính là những người vận hành hệ sinh thái này; vì vậy, đầu tư vào năng lực và tâm thế của người dạy chính là cách ngắn nhất để khơi dậy niềm đam mê khoa học nơi người học. Khi giáo dục tạo ra được sự liên thông hữu cơ giữa lý thuyết và ứng dụng đời sống, học sinh sẽ tự khắc tìm thấy ý nghĩa và quay lại với các môn KHTN một cách tự nguyện và bền vững.
P.V:Cảm ơn TS Đặng Văn Sơn về cuộc trò chuyện!
“
TS. Đặng Văn Sơn là Nghiên cứu viên Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội. Ngoài nghiên cứu khoa học, ông hoạt động tích cực trong việc phổ biến giáo dục STEM cho học sinh phổ thông. Ông là người sáng lập các hoạt động cộng đồng về giáo dục STEM như: Chuỗi Ngày hội STEM quốc gia từ 2015, Mạng lưới Đại sứ STEM 2020 và hàng loạt các dự án hỗ trợ giáo dục STEM cho các trường phổ thông với sự tài trợ của các tổ chức và cá nhân.