Kinh tế

Tái cấu trúc thể chế để "mở đường" tăng trưởng 2 con số

Phương Chi 30/04/2026 09:30

Mục tiêu tăng trưởng 2 con số không chỉ là câu chuyện của vốn, của chính sách vĩ mô, mà trước hết là câu chuyện của “luật chơi” trong nền kinh tế.

2.png

Nội dung + Thiết kế: Phương Chi • 30/04/2026

*****

Mục tiêu tăng trưởng 2 con số không chỉ là câu chuyện của vốn, của chính sách vĩ mô, mà trước hết là câu chuyện của “luật chơi” trong nền kinh tế. Theo ông Đậu Anh Tuấn - Phó Tổng Thư ký, Trưởng ban Pháp chế, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), nút thắt lớn nhất hiện nay nằm ở hệ thống pháp luật còn một số điểm chồng chéo, thiếu tính dự báo, khiến doanh nghiệp không dám nghĩ dài hạn. Muốn bứt phá, cải cách không thể dừng ở cắt giảm thủ tục, mà phải đi tới tái thiết cấu trúc thể chế, tạo nền tảng ổn định và minh bạch cho đầu tư và phát triển.

123.png

P.V: Mục tiêu tăng trưởng 2 con số thường được nhìn dưới góc độ điều hành kinh tế vĩ mô. Thế nhưng, ở một tầng sâu hơn, nhiều chuyên gia cho rằng, đây thực chất là bài toán của thể chế. Vậy theo ông, đâu là "nút thắt thể chế" mang tính nền tảng nhất hiện nay đang giới hạn tốc độ tăng trưởng của Việt Nam?

Ông Đậu Anh Tuấn: Khi nói đến tăng trưởng 2 con số, người ta hay nghĩ ngay đến chính sách tiền tệ, tài khóa, đầu tư công, thu hút FDI. Những thứ đó quan trọng, nhưng chúng giống như nhiên liệu đổ vào một cỗ máy. Nếu cỗ máy có vấn đề, đổ thêm bao nhiêu nhiên liệu cũng không chạy nhanh hơn được. Thể chế chính là cỗ máy đó.

Nút thắt nền tảng nhất mà tôi quan sát được, từ thực tiễn làm việc với rất nhiều doanh nghiệp, nằm ở chỗ: Hệ thống pháp luật kinh doanh của chúng ta đã trở nên quá phức tạp, chồng chéo và thiếu tính dự đoán. Doanh nghiệp Việt Nam hiện nay không thiếu ý tưởng, không thiếu vốn, không thiếu thị trường. Cái họ còn thiếu có thể là sự an tâm pháp lý để dám đầu tư lớn, dám nghĩ dài hạn.

Tôi lấy một ví dụ rất thực tế. Một doanh nghiệp muốn triển khai dự án sản xuất phải đồng thời tuân thủ Luật Đầu tư, Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Phòng cháy, chữa cháy và hàng loạt văn bản dưới luật khác. Mỗi luật riêng lẻ có thể hợp lý, nhưng tại giao điểm giữa các luật thì phát sinh những vòng lặp thủ tục mà doanh nghiệp không biết bắt đầu từ đâu. Muốn xin Giấy phép xây dựng thì phải có quyền sử dụng đất, muốn được giao đất thì phải có chấp thuận chủ trương đầu tư, mà hồ sơ chấp thuận đầu tư lại cần thông tin chi tiết về đất đai. Để lập báo cáo đánh giá tác động môi trường thì cần thiết kế cơ sở, mà thiết kế cơ sở chỉ có ý nghĩa khi đã xác định được mặt bằng. Cứ thế, các thủ tục yêu cầu lẫn nhau, doanh nghiệp chạy vòng vòng.

Nhưng nút thắt không chỉ nằm ở văn bản. Nó nằm sâu hơn, ở cách chúng ta tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước theo ngành dọc, mỗi bộ, ngành chủ trì xây dựng luật cho lĩnh vực của mình mà thiếu một cơ chế điều phối liên ngành đủ mạnh. Kết quả là mỗi bộ luật tự nó có thể tốt, nhưng khi ghép lại thì tạo ra một mê cung mà doanh nghiệp phải tự tìm đường đi. Và khi không tìm được đường, họ có 2 lựa chọn: Hoặc dừng lại không đầu tư, hoặc phải "đi đường vòng" với những chi phí không chính thức. Cả hai lựa chọn đều là tổn thất cho nền kinh tế.

Nếu Việt Nam thực sự muốn tăng trưởng 2 con số một cách bền vững thì phải tháo gỡ những nút thắt đang khiến dòng tiền hiện có không chảy được vào sản xuất, kinh doanh. Đó là bài toán thể chế để thay đổi cách vận hành đã tồn tại nhiều năm.

dpng(1).png

P.V: Một thực tế là nhiều doanh nghiệp không chỉ chịu chi phí tuân thủ hữu hình, mà còn gánh những "chi phí ẩn" từ sự chồng chéo giữa các luật và trong việc thực thi pháp luật. Ông nghĩ vấn đề cốt lõi nằm ở chất lượng quy định, hay ở cách tổ chức thực thi? Và làm thế nào để xử lý tận gốc tình trạng này?

Ông Đậu Anh Tuấn: Câu trả lời thành thật là: Cả hai, và chúng đan xen vào nhau theo cách rất khó tách rời.

Về chất lượng quy định, tôi phải nói rằng, hệ thống pháp luật kinh doanh của Việt Nam hiện nay rất đồ sộ nhưng chưa tinh. Chúng ta có quá nhiều văn bản, quá nhiều tầng nấc, từ luật xuống nghị định, thông tư, rồi đến công văn hướng dẫn. Nhiều quy định sử dụng ngôn ngữ mơ hồ, đa nghĩa, kiểu như "theo quy định của pháp luật" nhưng không chỉ rõ quy định nào, hoặc "trong trường hợp cần thiết" nhưng không ai biết quyết định thế nào là cần thiết. Sự mơ hồ đó không vô hại. Nó tạo ra không gian cho sự tùy tiện trong áp dụng, và đó chính là nguồn gốc của chi phí ẩn mà doanh nghiệp phải gánh chịu.

Nhưng nếu chỉ nhìn vào chất lượng văn bản thì chưa đủ. Khâu thực thi mới là nơi doanh nghiệp cảm nhận rõ nhất rủi ro. Cùng một điều luật mà cơ quan thuế ở tỉnh A hiểu một đằng, cơ quan thuế ở tỉnh B hiểu một nẻo. Doanh nghiệp có nhà máy ở 3, 4 tỉnh thì phải đối phó với 3, 4 cách hiểu khác nhau cho cùng một quy định. Chi phí ẩn nằm ở đây: Không phải tiền thuế hay tiền phí, mà là thời gian, công sức, sự bất an, và cả những khoản chi không tên để "làm cho xuôi" khi quy định không rõ ràng.

bna_uploaded-hongtoaibna-2022_01_25-_bna_van_phong_vsip_nghe_an5665710_2512022-21f57e4780ba7afbbf70b7f38e463dcb.jpeg

Có một nghịch lý mà ít người để ý. Khi quy định trên giấy càng mơ hồ thì quyền lực thực tế của người thực thi càng lớn. Và khi quyền lực thực thi không bị kiểm soát bởi những tiêu chí rõ ràng, minh bạch, thì rủi ro tùy tiện là rất cao. Doanh nghiệp không sợ luật nghiêm, doanh nghiệp sợ luật không rõ. Vì luật nghiêm thì còn biết đường tuân thủ, luật không rõ thì tuân thủ cũng có thể sai, mà không tuân thủ cũng có thể đúng, tùy vào người kiểm tra hôm đó hiểu thế nào.

Để xử lý tận gốc, tôi cho rằng, cần làm đồng thời 3 việc:

Thứ nhất, nâng cao chất lượng văn bản bằng cách yêu cầu mỗi quy định phải đạt tiêu chuẩn rõ ràng, cụ thể, đọc xong biết phải làm gì mà không cần luật sư diễn giải.

Thứ hai, xây dựng cơ chế giải thích pháp luật thống nhất. Hiện nay, khi có vướng mắc, doanh nghiệp phải tự đi hỏi từng cơ quan, mỗi nơi trả lời một kiểu bằng công văn, mà công văn thì không phải văn bản quy phạm nhưng trên thực tế lại có hiệu lực "cứng" với doanh nghiệp. Cần có một đầu mối có thẩm quyền giải thích chính thức, và các giải thích đó phải được công khai để tất cả cùng áp dụng.

Thứ ba, phải lượng hóa chi phí tuân thủ. Mỗi quy định mới ban hành phải trả lời được câu hỏi: Doanh nghiệp sẽ mất bao nhiêu thời gian và tiền bạc để tuân thủ, và lợi ích quản lý Nhà nước thu được có xứng đáng với chi phí đó không. Khi chi phí tuân thủ được đặt lên bàn cân một cách minh bạch, những quy định bất hợp lý sẽ tự lộ diện.

1gemini_generated_image_12m13r12m13r12m1-photoroom.png

P.V: Một trong những điều kiện để đạt tăng trưởng cao và bền vững là doanh nghiệp có khả năng dự báo và xây dựng kế hoạch dài hạn. Tuy nhiên, thực tế cho thấy không ít chính sách được điều chỉnh trong thời gian ngắn, thiếu lộ trình chuyển tiếp rõ ràng, như trường hợp Nghị định số 46 về an toàn thực phẩm khiến doanh nghiệp gặp khó trong việc thích ứng và làm gia tăng rủi ro pháp lý. Theo ông, độ ổn định của pháp luật có nên được nhìn như một "tài sản công" của nền kinh tế? Và nếu vậy, chúng ta đang "đầu tư" đủ cho tài sản này hay chưa?

Ông Đậu Anh Tuấn: Tôi rất thích cách đặt vấn đề này. Độ ổn định của pháp luật chính là một "tài sản công" và tôi cho rằng, đây là một trong những tài sản công bị đánh giá thấp nhất ở Việt Nam hiện nay.

Hãy nghĩ thế này. Khi một doanh nghiệp quyết định đầu tư một nhà máy, vòng đời dự án thường từ 10 - 15 năm. Họ tính toán mọi thứ dựa trên khung pháp lý hiện hành: Ưu đãi thuế, điều kiện sử dụng đất, quy chuẩn môi trường, chi phí lao động... Toàn bộ bài toán tài chính, từ dòng tiền đến điểm hòa vốn, đều được xây dựng trên giả định rằng, "luật chơi" sẽ không thay đổi đột ngột. Nhưng rồi chưa đầy 1, 2 năm, nghị định mới ra đời, thông tư hướng dẫn chưa kịp ban hành thì luật đã bị sửa lại. Toàn bộ bài toán kinh doanh bị đảo lộn.

Trường hợp Nghị định số 46 về an toàn thực phẩm mà bạn đặt vấn đề ở trên là một ví dụ điển hình. Nhưng nó không phải trường hợp duy nhất. Trong nhiều lĩnh vực, từ bất động sản, năng lượng tái tạo cho đến thương mại điện tử, doanh nghiệp đều phản ánh với chúng tôi rằng, sự thay đổi chính sách quá nhanh, quá đột ngột, thiếu thời gian chuyển tiếp hợp lý. Có những doanh nghiệp đầu tư hàng trăm tỷ đồng vào điện mặt trời dựa trên cơ chế giá FIT, rồi cơ chế thay đổi, dự án dở dang, vốn kẹt, ngân hàng đòi nợ. Thiệt hại đó không chỉ của riêng doanh nghiệp, mà là thiệt hại của cả nền kinh tế.

Tác động của sự bất ổn chính sách có 2 tầng.

Tầng thứ nhất là chi phí trực tiếp: Doanh nghiệp phải liên tục cập nhật quy định, điều chỉnh quy trình, đào tạo lại nhân sự, thuê thêm luật sư và tư vấn chỉ để hiểu xem mình có đang vi phạm gì không. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, chi phí này là gánh nặng rất lớn.

Tầng thứ hai nguy hiểm hơn nhiều, đó là chi phí cơ hội: Doanh nghiệp trì hoãn đầu tư, không dám mở rộng, không dám đổi mới vì không chắc chắn về môi trường pháp lý. Tiền nằm trong tài khoản ngân hàng thay vì chảy vào nền kinh tế. Nhà đầu tư nước ngoài thì so sánh Việt Nam với Thái Lan, Indonesia, Malaysia, và họ chọn nơi nào mà "luật chơi" ổn định hơn. Đó là tổn thất mà chúng ta không nhìn thấy trên bảng cân đối nhưng rất thực.

Chúng ta đang "đầu tư" đủ cho tài sản này chưa? Tôi cho rằng chưa. Và cách "đầu tư" cũng cần thay đổi. Cụ thể, tôi kiến nghị 3 điều.

Một là, cần quy định thời gian chuyển tiếp tối thiểu từ 12 - 24 tháng cho các thay đổi chính sách ảnh hưởng trực tiếp đến kinh doanh, trừ trường hợp khẩn cấp.

Hai là, với các dự án đầu tư lớn, dài hạn, cần áp dụng điều khoản ổn định đầu tư (stabilization clause), cam kết không áp dụng hồi tố các thay đổi bất lợi về thuế và ưu đãi trong một thời hạn nhất định. Đây là thông lệ quốc tế mà nhiều nước trong khu vực đã áp dụng.

Ba là, về mặt thiết kế hệ thống, cần phân biệt rõ 2 tầng: Tầng ổn định gồm các nguyên tắc nền tảng như quyền tài sản, tự do kinh doanh, tự do hợp đồng, những thứ này phải được giữ ổn định cao; và tầng linh hoạt gồm các quy định kỹ thuật, điều kiện kinh doanh cụ thể, có thể điều chỉnh theo thực tiễn nhưng phải có lộ trình rõ ràng. Không thể để mọi thứ đều "chao đảo" cùng lúc.

Pháp luật ổn định không có nghĩa là pháp luật đứng yên, mà là thay đổi có trật tự, có dự báo trước và tôn trọng những cam kết đã đưa ra. Đó là nền tảng để doanh nghiệp dám nghĩ lớn, đầu tư lớn, cũng chính là nền tảng để nền kinh tế tăng trưởng bền vững.

628205788_26261110670153446_9177863952956493603_n.jpg
VCCI tổ chức Hội thảo tháo gỡ vướng mắc trong thực hiện chính sách pháp luật mới về an toàn thực phẩm. Ảnh: VCCI
558930675_25192101893721001_3793403439496656491_n.jpg
Ông Đậu Anh Tuấn - Phó Tổng Thư ký, Trưởng ban Pháp chế, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phát biểu tại Hội thảo tháo gỡ vướng mắc về chính sách thuế giá trị gia tăng với ngành nông, lâm, thuỷ sản. Ảnh: VCCI

P.V: Trong nhiều năm, cải cách thường được hiểu là cắt giảm thủ tục, điều kiện kinh doanh, nhưng dường như giai đoạn tới đòi hỏi một cách tiếp cận sâu hơn, đó là tái thiết lại cấu trúc pháp luật. Theo ông, đâu là khác biệt giữa "cải cách kỹ thuật" và "cải cách cấu trúc" trong thể chế kinh tế, và Việt Nam đang ở ngưỡng nào của quá trình này?

Ông Đậu Anh Tuấn: Cải cách kỹ thuật là làm cho hệ thống hiện tại chạy trơn tru hơn: Cắt thủ tục, rút ngắn thời gian cấp phép, số hóa quy trình. Việt Nam đã làm khá nhiều trong thời gian qua và đạt được kết quả đáng ghi nhận. Nhưng để tối ưu hóa, cần thay đổi cách thiết kế toàn bộ hệ thống pháp luật từ gốc.

Điều đáng mừng là Việt Nam không còn đứng ở ngưỡng cửa nữa mà đã thực sự bước vào giai đoạn cải cách cấu trúc. Kết luận số 09 của Bộ Chính trị ban hành tháng 3 năm 2026 về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật là một văn bản mang tính bước ngoặt, đặt ra những định hướng mà trước đây chúng ta chưa từng thấy ở tầm chính trị cao như vậy.

502688375_24102066896057845_1297195559268761239_n.jpg
Ông Đậu Anh Tuấn - Phó Tổng Thư ký, Trưởng ban Pháp chế VCCI tại Hội thảo Vai trò của doanh nghiệp trong tham gia xây dựng và áp dụng Luật tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật. Ảnh: VCCI
503179950_24102066969391171_1894545853382470260_n.jpg
Lễ ký kết Biên bản ghi nhớ (MOU) giữa Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia. Ảnh: VCCI
485392317_9813823801975393_7970072751898072619_n.jpg
Ông Đậu Anh Tuấn - Phó Tổng Thư ký, Trưởng ban Pháp chế VCCI phát biểu tại Hội thảo tham vấn xây dựng chỉ số xanh cấp tỉnh. Ảnh: VCCI

Tôi muốn nhấn mạnh 3 điểm đột phá trong Kết luận 09 mà cộng đồng doanh nghiệp đặc biệt quan tâm.

Thứ nhất, là việc phân biệt rõ ràng giữa quy phạm pháp luật công và quy phạm pháp luật tư. Đây là triết lý rất quan trọng. Luật công điều chỉnh quan hệ giữa Nhà nước với người dân, doanh nghiệp thì phải thiết kế chặt chẽ, cụ thể, minh bạch, vừa trao quyền đủ mạnh cho cơ quan Nhà nước, vừa kiểm soát được nguy cơ lạm quyền. Còn luật tư điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể dân sự, kinh doanh với nhau thì chỉ nên đặt ra khung nguyên tắc, để các bên tự thỏa thuận trên tinh thần không vi phạm điều cấm. Nói cách khác, Nhà nước quản chặt quyền lực của chính mình và nới rộng không gian cho sáng tạo của người dân, doanh nghiệp. Nếu nguyên tắc này được thực hiện nghiêm túc, nó sẽ giải phóng năng lượng kinh doanh rất lớn.

Thứ hai, là định hướng đơn giản hóa hệ thống văn bản theo hướng mỗi chủ thể có thẩm quyền chỉ ban hành một hình thức văn bản, hạn chế tối đa việc ban hành nhiều tầng nấc văn bản hướng dẫn chi tiết. Đây chính là cách xử lý tận gốc tình trạng "rừng" thông tư, nghị định mà doanh nghiệp lâu nay phải “lội” qua. Khi hệ thống gọn lại, minh bạch hơn, chi phí tuân thủ sẽ giảm đáng kể.

Thứ ba, là mục tiêu rất cụ thể: Đưa môi trường đầu tư của Việt Nam vào nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN vào năm 2028. Đây không còn là khẩu hiệu chung chung mà là cam kết có thời hạn, có thể đo lường được. Cùng với đó, Kết luận số 09 cũng nhấn mạnh việc chú trọng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) cho các lĩnh vực kinh tế mới, đưa pháp luật từ vai trò "chạy theo" sang vai trò "đi trước mở đường". Đó là tư duy lập pháp kiến tạo mà cộng đồng doanh nghiệp chờ đợi từ rất lâu.

Tôi nhìn giai đoạn này với sự lạc quan có cơ sở. Khi cả hệ thống chính trị xác định thể chế là "đột phá của đột phá", khi Bộ Chính trị ban hành một kết luận riêng về cấu trúc pháp luật với những định hướng rất cụ thể và tiến bộ, thì đây thực sự là thời điểm chín muồi để Việt Nam chuyển từ cải cách kỹ thuật sang cải cách cấu trúc. Điều quan trọng bây giờ là tốc độ và chất lượng thực thi, biến những định hướng đúng đắn đó thành thực tiễn mà doanh nghiệp cảm nhận được trong hoạt động kinh doanh hàng ngày.

P.V: Trước những chuyển động cải cách thể chế hiện nay, theo ông, doanh nghiệp nên chuẩn bị tâm thế và năng lực như thế nào để vừa thích ứng, vừa tận dụng được cơ hội từ giai đoạn tăng trưởng mới?

Ông Đậu Anh Tuấn: Tôi muốn nói với cộng đồng doanh nghiệp rằng: Cải cách thể chế không phải là chuyện của riêng nhà nước. Doanh nghiệp vừa là người thụ hưởng, vừa phải là người đồng hành, và cũng cần tự chuẩn bị cho mình.

Trước hết về tâm thế. Giai đoạn tới sẽ là giai đoạn chuyển đổi, và mọi sự chuyển đổi đều đi kèm với bất định. Sẽ có những quy định cũ bị bãi bỏ, quy định mới được ban hành, cách quản lý thay đổi, bộ máy nhà nước sắp xếp lại. Doanh nghiệp nào chỉ biết vận hành theo quán tính cũ, dựa vào quan hệ cũ, sẽ gặp khó. Doanh nghiệp nào có năng lực thích ứng, hiểu luật, hiểu chính sách, và biết cách tham gia vào quá trình hoạch định chính sách, sẽ nắm bắt được cơ hội.

t(1).png

Cụ thể, tôi cho rằng doanh nghiệp cần chuẩn bị ở ba phương diện.

Phương diện thứ nhất là năng lực pháp lý. Nghe thì có vẻ hiển nhiên, nhưng thực tế rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt doanh nghiệp nhỏ và vừa, chưa đầu tư đúng mức cho bộ phận pháp chế, cho việc theo dõi và cập nhật chính sách. Trong một môi trường pháp lý đang thay đổi nhanh, năng lực hiểu luật và tuân thủ chủ động không còn là "chi phí" mà là "đầu tư" có tỷ suất sinh lời rất cao. Một doanh nghiệp hiểu rõ quy định mới sẽ tận dụng được ưu đãi, tránh được rủi ro, và ra quyết định nhanh hơn đối thủ.

Phương diện thứ hai là năng lực quản trị. Cải cách thể chế sẽ dần chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, từ "xin phép trước" sang "tự chịu trách nhiệm". Điều này có nghĩa là doanh nghiệp sẽ được tự do hơn, nhưng cũng phải chịu trách nhiệm nhiều hơn. Doanh nghiệp nào có hệ thống quản trị tốt, minh bạch, có kiểm soát nội bộ chặt chẽ, sẽ thích ứng tốt với môi trường mới. Doanh nghiệp nào quen "làm liều rồi tính sau" sẽ đối mặt với rủi ro lớn hơn khi cơ chế hậu kiểm được tăng cường.

Phương diện thứ ba, và tôi cho là quan trọng nhất, là năng lực tham gia. Lâu nay nhiều doanh nghiệp có tâm lý "kệ nhà nước làm, mình cứ kinh doanh". Nhưng giai đoạn tới, khi cải cách thể chế đi vào chiều sâu, tiếng nói của doanh nghiệp trong quá trình xây dựng chính sách trở nên cực kỳ quan trọng. Không ai hiểu rõ tác động của một quy định bằng chính người phải sống với nó hàng ngày. VCCI đã kiến nghị rằng doanh nghiệp cần được tham gia ngay từ giai đoạn thiết kế chính sách, với tư cách là chủ thể đồng thiết kế chứ không chỉ là đối tượng được lấy ý kiến. Nhưng để tham gia hiệu quả, doanh nghiệp phải có năng lực phản biện, phải biết cách trình bày vấn đề bằng dữ liệu, bằng phân tích, chứ không chỉ bằng cảm xúc.

Tôi lạc quan vì nhìn thấy một thế hệ doanh nhân mới ở Việt Nam, những người không chỉ giỏi kinh doanh mà còn hiểu biết về chính sách, về pháp luật, về quản trị hiện đại. Họ không ngồi chờ nhà nước thay đổi rồi mới thích ứng, mà chủ động tham gia vào quá trình thay đổi đó. Họ tham gia các hiệp hội ngành nghề, đóng góp ý kiến cho các dự thảo luật, phản biện chính sách một cách xây dựng và có trách nhiệm. Đó chính là hình mẫu mà cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam cần hướng tới.

Và tôi muốn nhấn mạnh thêm một điều. Giai đoạn cải cách thể chế sâu rộng cũng chính là giai đoạn mà sân chơi được san phẳng hơn. Khi luật rõ ràng hơn, khi thực thi thống nhất hơn, khi cơ chế "xin cho" giảm đi, thì lợi thế cạnh tranh sẽ thuộc về doanh nghiệp có năng lực thực sự chứ không phải doanh nghiệp có quan hệ tốt.

Nói tóm lại, tâm thế cần có là chủ động thay vì thụ động, tham gia thay vì đứng ngoài, đầu tư vào năng lực thay vì dựa vào quan hệ. Cải cách thể chế mở ra cơ hội lớn, nhưng cơ hội chỉ thuộc về những ai đã sẵn sàng.

P.V: Cảm ơn ông Đậu Anh Tuấn về những trao đổi thẳng thắn!

Phương Chi