Hành trình trở về phụng sự Tổ quốc của một Tổng công trình sư
Chia tay ông, tôi hỏi rằng liệu ông có bao giờ cảm thấy hối tiếc khi đã thành đạt lại rời Trung Quốc để trở về Việt Nam? Ông Lý Kiến Nam chỉ cười hiền. Ánh mắt ông chậm rãi hướng ra khoảng sân trước nhà rồi nhẹ nhàng nói: “Tổ tiên, gốc gác của tôi ở Việt Nam, ở làng Lương Điền, ở Bích Hào thân thương. Khi Tổ quốc cần thì sao tôi lại không về…”.

Nội dung: Tiến Đông / Trình bày: Hồng Toại • 12/05/2026
*****
Chia tay ông, tôi hỏi rằng liệu ông có bao giờ cảm thấy hối tiếc khi đã thành đạt lại rời Trung Quốc để trở về Việt Nam? Ông Lý Kiến Nam chỉ cười hiền. Ánh mắt ông chậm rãi hướng ra khoảng sân trước nhà rồi nhẹ nhàng nói: “Tổ tiên, gốc gác của tôi ở Việt Nam, ở làng Lương Điền, ở Bích Hào thân thương. Khi Tổ quốc cần thì sao tôi lại không về cơ chứ…”

Tôi gặp ông Lý Kiến Nam (tức Đặng Kiến Nam) vào những ngày cuối tháng Tư lịch sử, trong một con ngõ nhỏ trên phố Kim Hoa, phường Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hà Nội. Giữa không gian trầm mặc của phố nhỏ, ông chậm rãi kể về gia đình mình bằng giọng trầm ấm, in hằn dấu thời cuộc của một con người đã đi qua gần trọn một thế kỷ dâu bể.

Ông Lý Kiến Nam là cháu của Giáo sư Đặng Thai Mai, đồng thời là em họ của bà Đặng Bích Hà - phu nhân của Đại tướng Võ Nguyên Giáp - một người con của dòng họ Đặng nổi tiếng vùng Bích Hào, Nghệ An (thuộc huyện Thanh Chương cũ). Qua câu chuyện của ông, từng lớp ký ức xưa dần được lật mở, hoà vào dòng chảy hào hùng của lịch sử dân tộc. Ngay cả họ “Lý” mà ông đang mang cũng chất chứa phía sau một câu chuyện dài, thấm đẫm dấu ấn của một thời kỳ oanh liệt.


Ông Nam kể, gia đình ông có gốc ở làng Lương Điền, tổng Bích Hào xưa, nay thuộc xã Bích Hào. Họ Đặng ở làng Lương Điền là một dòng họ có truyền thống yêu nước lâu đời, nhiều thế hệ đã đi qua những biến động lớn của lịch sử dân tộc.
Ông nội của ông Lý Kiến Nam là cụ Đặng Quý Hối, em trai của hai nhà yêu nước Đặng Nguyên Cẩn và Đặng Thúc Hứa. Trong phong trào Cần Vương chống Pháp, cụ Hối từng tham gia hoạt động yêu nước tại quê nhà và sớm định hướng cho các con đi theo con đường cách mạng.
Sau đó, ba người con của cụ Đặng Quý Hối là Đặng Xuân Thanh (hay còn gọi là Đặng Thai Đậu - cha của ông Lý Kiến Nam) cùng hai người con gái là Đặng Thị Hợp và Đặng Thị Quỳnh đã lên đường sang Xiêm (Thái Lan), để gặp bác mình là Đặng Thúc Hứa, còn gọi là ông Tú Hai, để tiếp tục con đường hoạt động cách mạng.

Tại nơi đất khách, ông Đặng Xuân Thanh và hai người em vừa tham gia lao động sản xuất tại các trại cày, vừa học tập văn hóa. Trong đó, ông Đặng Xuân Thanh sớm bộc lộ tư chất thông minh, ngoài lao động nông nghiệp còn theo học tại trường địa phương, từng bước tiếp nhận tri thức trong bối cảnh đầy gian khó của những người Việt xa xứ.
Ngoài người cha xuất thân trong gia đình có truyền thống cách mạng, mẹ của ông Lý Kiến Nam cũng là người con của một dòng họ giàu lòng yêu nước. Bà tên thật là Nguyễn Thị Đức, quê gốc ở Hương Khê (Hà Tĩnh), sinh năm 1909 tại làng Vặt Pà, tỉnh Na Khôn, Thái Lan. Cha bà là cụ Cựu Tuấn – người bạn thân thiết của cụ Đặng Thúc Hứa.
.jpg)
Năm 1925, sau khi tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thành lập ở Quảng Châu - thủ phủ của tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc), theo chủ trương của Người, từ năm 1925, nhiều thiếu niên ưu tú là con em Việt kiều yêu nước tại Thái Lan đã được đưa sang Quảng Châu học tập, rèn luyện. Gia đình cụ Cựu Tuấn có ba người con thì cả ba đều được lựa chọn tham gia. Vào khoảng tháng 6/1925, có 8 thiếu niên đã được chọn sang Quảng Châu đào tạo. Khi ấy, do Bác Hồ đang hoạt động dưới bí danh Lý Thụy, nên Người đã đổi họ của các thiếu niên này sang họ Lý. Trong số đó có Lý Tự Trọng, Lý Chí Thông (em trai bà Đức), Lý Văn Minh, Lý Thúc Chất, Lý Anh Tự, Lý Nam Thanh, Lý Phương Thuận và Lý Phương Đức - tức Nguyễn Thị Đức, mẹ ông Lý Kiến Nam. Tất cả đều tham gia hoạt động trong tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên.
Tại Quảng Châu, bà Lý Phương Đức vừa học tập vừa tham gia in ấn, phát hành báo Thanh Niên do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ biên, làm công tác giao liên và tuyên truyền cách mạng. Tháng 5/1926, bà được kết nạp vào Đoàn Thanh niên Cộng sản Trung Quốc; đến tháng 1/1927 tiếp tục được giới thiệu vào Đảng Cộng sản Trung Quốc thuộc Đảng bộ Quảng Đông, phân bộ Quảng Châu. Ngoài hoạt động tuyên truyền, bà còn tham gia vận động công nhân tại các xưởng sản xuất ở Quảng Châu.

Cuối năm 1927, khi cuộc khởi nghĩa Quảng Châu bùng nổ, bà Lý Phương Đức cùng nhiều cán bộ, hội viên thanh niên tham gia chiến đấu bên cạnh quần chúng cách mạng. Sau thất bại của cuộc khởi nghĩa, dù nhiều cơ sở Đảng và hệ thống giao liên bị phá vỡ, bà vẫn tiếp tục hoạt động từ Quảng Châu đến Thượng Hải với vai trò giao liên của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và Đảng Cộng sản Trung Quốc, và được xem như một “lưỡng Đảng giao thông viên”.
Tháng 5/1931, do bị chỉ điểm, bà Lý Phương Đức cùng nhà cách mạng Nguyễn Thị Minh Khai và nhiều cán bộ yêu nước bị bắt. Dù bị tra tấn dã man, bà vẫn không khai báo, không để lộ bất cứ đầu mối hay cơ sở cách mạng nào. Sau đó, thực dân Pháp thông đồng với thực dân Anh đưa bà về giam tại Nhà tù Hỏa Lò. Đến năm 1934, chính quyền thực dân buộc phải tuyên bố trắng án nhưng trục xuất bà khỏi Đông Dương, chỉ cho phép cư trú tại Hồng Kông, Ma Cao và Quảng Châu.

Sau khi trở lại Quảng Châu, do mất liên lạc với tổ chức, bà sang Ma Cao rồi Hồng Kông dạy học. Trong thời gian này, bà kết hôn với ông Đặng Xuân Thanh, lúc này cũng đã từ Xiêm sang Trung Quốc hoạt động. Tuy nhiên, chỉ một thời gian ngắn, vào năm 1941, ông Đặng Xuân Thanh đã bị quân Tưởng Giới Thạch bắt giam và hy sinh không lâu sau đó. Sau khi cách mạng Trung Quốc thắng lợi năm 1949, bà Đức cùng hai người con là Lý Kiến Nam và Lý Tuệ Minh quay trở lại Quảng Châu, vừa dạy học vừa nuôi dạy con cái trưởng thành.
Sau câu chuyện về người mẹ của mình, ông Lý Kiến Nam khẽ vỗ vai tôi rồi nói: “Giờ thì cháu biết vì sao ông mang họ Lý rồi chứ?”. Nói rồi, ông trầm ngâm kể tiếp rằng sau khi cha hy sinh, mẹ ông vừa một mình nuôi con vừa tham gia hoạt động bí mật.

Trong cuộc trò chuyện, ông Lý Kiến Nam còn cho tôi xem tập hồi ký "Theo Bác Hồ làm cách mạng" được viết vào năm 1979 của bà Lý Phương Đức lúc sinh thời. Điều khiến tôi xúc động nhất là những dòng bà viết để nhắn nhủ, răn dạy con cháu: “Từ hồi ấy đến nay tôi vẫn mang họ Lý, là con cháu luôn trung thành với lý tưởng cao cả của Bác Hồ, đời đời theo gương Bác, đời đời là con cháu của Bác, của dân tộc Việt Nam anh hùng”. Những dòng hồi ký giản dị nhưng chan chứa niềm tin, lòng trung thành và tình yêu nước sâu sắc, khiến tôi không khỏi xúc động.

Sau này, khi cách mạng Trung Quốc thành công, bà Lý Phương Đức vừa tham gia dạy học, nuôi dạy con cái trưởng thành và luôn tích cực tham gia công tác của hội Việt kiều. Đặc biệt, ông Lý Kiến Nam sau khi tốt nghiệp Đại học Gang thép Bắc Kinh năm 1959 đã được giữ lại làm nghiên cứu sinh trong hai năm. Sau đó ông được phân về công tác tại Tập đoàn Gang thép Thủ đô Bắc Kinh và trở thành Tổng công trình sư, chuyên gia cao cấp trong lĩnh vực luyện kim. Tại đây, ông trực tiếp nghiên cứu, chủ trì đề tài cấp Nhà nước “Phun nhiên liệu tổng hợp vào lò cao để luyện gang”.
Trong thời gian ông cùng gia đình sinh sống và làm việc tại Trung Quốc, năm 1971, ở Việt Nam, nhà máy Gang thép Thái Nguyên đã bị đế quốc Mỹ đánh phá ác liệt, hư hỏng nặng. Khi sang thăm Trung Quốc, Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị được biết tại đây có một chuyên gia luyện kim giỏi người Việt Nam đang công tác. Ngay sau đó, ông đã chuyển lời mời của Thủ tướng Phạm Văn Đồng mong ông Lý Kiến Nam trở về quê hương tham gia khôi phục Nhà máy Gang thép Thái Nguyên.

Ban đầu, ông Lý Kiến Nam vẫn còn trăn trở bởi gia đình, vợ con và cả mẹ ông đều đang sinh sống tại Trung Quốc. Nhưng sau cuộc gặp với Bộ trưởng Bộ Cơ khí luyện kim Đinh Đức Thiện tại Nhà khách Chính phủ ở Bắc Kinh, khi hiểu rõ tình hình quê nhà, ông đã quyết định trở về. Năm 1971, ông một mình về nước trước; đến năm 1976, sau khi đất nước thống nhất, bà Lý Phương Đức cùng con cháu cũng trở về Việt Nam đoàn tụ.
Trở về nước, ông Lý Kiến Nam đảm nhiệm vị trí chuyên viên cao cấp tại Vụ Kỹ thuật – Bộ Cơ khí luyện kim, sau đó được bổ nhiệm giữ chức Phó Viện trưởng Viện Luyện kim Thái Nguyên, là lãnh đạo Hội Đúc - Luyện kim Việt Nam trong nhiều năm. Trong cuộc trò chuyện với ông, tôi đặc biệt khâm phục trước vốn tri thức uyên bác cùng sự mẫn tiệp hiếm có. Dù đã bước sang tuổi 90, ông vẫn nhớ rõ từng dấu mốc cuộc đời và say sưa kể về những năm tháng gắn bó với ngành luyện kim. Bên cạnh ông là người vợ hiền – bà Đặng Kim Dung, một người con gái Trung Quốc dịu dàng. Sau khi theo chồng về Việt Nam, bà đã dành thời gian học tiếng Việt, cùng chồng phụng dưỡng mẹ già, chăm lo gia đình, nuôi dạy con cháu, lặng lẽ vun đắp cho một mái ấm mang đậm nghĩa tình Việt – Trung suốt nhiều thập kỷ.



Chia tay ông, tôi hỏi một câu rằng liệu ông có bao giờ cảm thấy hối tiếc khi đã thành đạt lại rời Trung Quốc để trở về Việt Nam? Ông Lý Kiến Nam chỉ cười hiền. Ánh mắt ông chậm rãi hướng ra khoảng sân trước nhà rồi nhẹ nhàng nói: “Tổ tiên, gốc gác của tôi ở Việt Nam, ở làng Lương Điền, ở Bích Hào thân thương. Khi Tổ quốc cần thì sao tôi lại không về cơ chứ…”.
Câu nói mộc mạc ấy khiến tôi lặng đi. Tròn 55 năm ngày ông trở về quê hương và cũng tròn nửa thế kỷ kể từ ngày cả gia đình ông hồi hương về lại quê cha đất tổ, biết bao đổi thay đã đi qua. Nhưng trong người chuyên gia ấy chưa bao giờ có sự đắn đo của được - mất, càng không có chút tiếc nuối cho một cuộc sống đủ đầy nơi đất khách.
Điều còn lại sau ngần ấy năm chỉ là tình yêu quê hương sâu nặng, là sự gắn bó máu thịt với cội nguồn, và niềm tự hào được góp một phần trí tuệ, sức lực cho đất nước. Có lẽ, đó cũng chính là điều đẹp đẽ nhất được kết tinh từ một gia đình đã nhiều thế hệ hiến dâng, hy sinh cho Tổ quốc.





Tôi tìm về nhà thờ họ Đặng ở làng Lương Điền, xã Bích Hào (Nghệ An), mảnh đất thuộc huyện Thanh Chương (cũ). Dẫu ngày nay cái tên Lương Điền chỉ còn trong ký ức, là khoảng không gian ước lệ, rất khó xác định và rất mơ hồ đối với lớp hậu sinh. Được nghe kể về những trang sử hào hùng của dòng họ Đặng nơi đây, về những người con kiên trung, bất khuất đã hy sinh cho Tổ quốc. Tôi chợt hiểu rằng hành trình trở về của ông Lý Kiến Nam không phải là một lựa chọn ngẫu nhiên, mà như một sự tiếp nối tự nhiên của truyền thống gia đình, dòng tộc và quê hương. Mảnh đất nhỏ bên dòng Lam ấy, qua bao biến thiên lịch sử, vẫn lưu giữ cốt cách của một vùng quê giàu lòng yêu nước, hiếu học và kiên trung. Từ những người con như Đặng Nguyên Cẩn, Đặng Thúc Hứa, Đặng Thai Mai… đến ông Lý Kiến Nam (Đặng Kiến Nam) hôm nay, dường như trong huyết mạch của dòng họ Đặng - Lương Điền luôn cháy âm ỉ một điều giản dị mà lớn lao. Đó là dù đi đâu, làm gì, cuối cùng vẫn hướng lòng mình về Tổ quốc, về quê cha đất tổ...
