Xã hội

Mở rộng cơ hội học bơi cho trẻ

Thanh Phúc - Hoài Thu 17/06/2026 09:23

Sau hơn hai năm thực hiện, Nghị quyết số 09/2023/NQ-HĐND đã góp phần mở rộng cơ hội học bơi cho trẻ em, đặc biệt ở khu vực nông thôn, miền núi. Bên cạnh những kết quả tích cực, thực tiễn triển khai cũng đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện chính sách nhằm nâng cao hiệu quả phòng, chống đuối nước trẻ em.

Hiệu quả bước đầu

bna_0704.jpg
Xã Thành Bình Thọ khai giảng lớp học bơi hè 2026. Ảnh: H.T

Giữa những ngày nắng nóng đầu hè, bể bơi di động đặt tại Trường Tiểu học Thành Sơn, xã Thành Bình Thọ trở thành điểm đến quen thuộc của nhiều học sinh trong vùng. Với nhiều em nhỏ nơi đây, đây là lần đầu tiên được học bơi một cách bài bản ngay tại địa phương mình sinh sống. Chỉ vài năm trước, việc học bơi đối với nhiều học sinh nơi đây vẫn là điều không dễ thực hiện.

Muốn con được trang bị kỹ năng phòng, chống đuối nước, nhiều phụ huynh phải đưa các em xuống trung tâm huyện để theo học các lớp bơi thương mại. Quãng đường xa, chi phí đi lại và thời gian đưa đón khiến không ít gia đình dù nhận thức được tầm quan trọng của việc học bơi nhưng vẫn khó duy trì cho con theo học đầy đủ.

Bởi vậy, khi địa phương được hỗ trợ đầu tư bể bơi từ Nghị quyết số 09/2023/NQ-HĐND, sự thay đổi không chỉ thể hiện ở việc xuất hiện thêm một công trình thể thao giữa sân trường. Điều mà người dân cảm nhận rõ hơn là cơ hội tiếp cận kỹ năng bơi lội đã được đưa đến gần trẻ em ngay tại nơi các em sinh sống.

bna_0745.jpg
Bể bơi này được hỗ trợ từ Nghị quyết số 09/2023/NQ-HĐND tỉnh với kinh phí 100 triệu đồng. Ảnh: T.P

Chị Phan Thị Thảo, xã Thành Bình Thọ có hai con đang học lớp 4 và lớp 6, cho biết những năm trước gia đình vẫn phải đưa các cháu đi học bơi ở xa dù khá vất vả. “Nguy cơ đuối nước bây giờ đáng lo nên dù cực mấy cũng phải cố gắng cho con đi học. Từ khi xã có bể bơi, phụ huynh rất phấn khởi vì các cháu được học ngay gần nhà, thuận tiện hơn nhiều”, chị chia sẻ.

Niềm vui ấy cũng là điều mà chính quyền địa phương kỳ vọng khi bắt tay triển khai chính sách. Theo anh Lê Quang Thành, Phó Trưởng phòng Văn hóa - Xã hội xã Thành Bình Thọ, đây là địa bàn có nhiều ao hồ, sông suối, lại thường xuyên chịu ảnh hưởng của ngập lụt nên nguy cơ đuối nước đối với trẻ em luôn hiện hữu.

Việc có bể bơi ngay tại địa phương không chỉ tạo thêm sân chơi cho học sinh trong dịp hè mà quan trọng hơn là giúp các em được trang bị kỹ năng an toàn trong môi trường nước, điều vốn rất cần thiết đối với những vùng có nhiều nguy cơ rủi ro như Thành Bình Thọ. Nếu trước đây việc học bơi chủ yếu phụ thuộc vào điều kiện kinh tế của từng gia đình hoặc khả năng tiếp cận các cơ sở dịch vụ, thì nay cơ hội ấy đang được mở rộng đến nhiều nhóm trẻ em hơn, đặc biệt là trẻ em ở khu vực nông thôn và miền núi.

bna_boi05827-0fd80060758d44d8c1269bf226608df9(1).jpg
Chủ trương hỗ trợ bể bơi cho các địa phương giúp tăng cường kỹ năng cho học sinh, trẻ em rất thiết thực. Ảnh: HT

Theo ông Lê Văn Lâm, nguyên cán bộ Phòng Văn hoá - Thông tin huyện Anh Sơn cũ, khi triển khai Nghị quyết 09 của HĐND tỉnh, toàn huyện có 8 xã đăng ký lắp đặt bể bơi. Trong số đó, đến nay một số xã vẫn duy trì hoạt động như Thọ Thành (hiện nay là Thành Bình Thọ), Tường Sơn (nay là xã Vĩnh Tường),… Ông Lâm khẳng định, chủ trương hỗ trợ bể bơi cho các địa phương giúp tăng cường kỹ năng cho học sinh, trẻ em rất thiết thực, được người dân ghi nhận tích cực. Những xã khác lúc bấy giờ vì nhiều lý do đã không triển khai được là điều đáng tiếc.

Tại huyện Kỳ Sơn cũ, nơi địa hình bị chia cắt bởi núi cao, khe suối và điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn, việc tổ chức dạy bơi bài bản cho học sinh từng là mong muốn của ngành giáo dục, đào tạo địa phương trong nhiều năm nhưng chưa thể thực hiện rộng rãi do thiếu cơ sở vật chất. Chính vì vậy, khi nghị quyết được ban hành, huyện đã chủ động đối ứng kinh phí để triển khai lắp đặt 16 bể bơi tại các trường học trên địa bàn.

bna_boiupukzgditkjzpatgq6kkaaomgbmnt7i3mb5e2frw8p8fuxqdec15yy6bkalusetfb.jpg
Một bể bơi di động ở Trường Phổ thông Dân tộc bán trú Chiêu Lưu 1. Ảnh: H.T

Theo ông Phạm Viết Phúc, nguyên Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Kỳ Sơn, việc lựa chọn vị trí lắp đặt được tính toán theo hướng ưu tiên những trường học có đông học sinh, bảo đảm khả năng khai thác lâu dài và hiệu quả. Sau hơn hai năm đưa vào sử dụng, nhiều bể bơi phát huy tốt công năng, trở thành địa điểm học tập, rèn luyện quen thuộc của học sinh trong mỗi dịp hè.

Trong số đó, Trường Phổ thông Dân tộc bán trú Tiểu học Chiêu Lưu 1 là một ví dụ tiêu biểu. Với hơn 400 học sinh, trong đó có trên 120 em ăn ở bán trú, bể bơi không chỉ là nơi dạy kỹ năng bơi lội mà còn trở thành một phần trong đời sống sinh hoạt của nhà trường. Theo thầy Đào Công Quang, Hiệu trưởng nhà trường, ngay từ năm đầu tiên vận hành, toàn bộ học sinh nội trú đã được học và biết bơi. Nhiều em chỉ mất vài ngày làm quen với nước là có thể thực hiện được các kỹ năng cơ bản.

Đối với những đứa trẻ lớn lên giữa vùng núi có nhiều khe suối, thường xuyên đối mặt với bão lụt, lũ ống, lũ quét, việc biết bơi mang ý nghĩa vượt xa phạm vi của một môn thể thao. Đó là kỹ năng giúp các em tự bảo vệ mình trước những rủi ro có thể gặp phải trong cuộc sống thường ngày. Và xét ở góc độ đó, những bể bơi được đầu tư từ nghị quyết không đơn thuần là một công trình phục vụ hoạt động thể chất mà còn là một giải pháp phòng ngừa tai nạn đuối nước từ sớm, từ cơ sở.

bna_boiupukzgdir0zxsg9gaoejf0i8a4ikaizhjac2jw4aqzhb1l3alljebslmncizt45oh.jpg
Việc được học bơi giúp các em tự bảo vệ mình trước những rủi ro có thể gặp phải trong cuộc sống thường ngày. Ảnh: T.P

Nghị quyết 09 đặt mục tiêu đến năm 2025

- 50% trẻ em 9-16 tuổi biết bơi, có kỹ năng an toàn dưới nước.

- 100% huyện, thành, thị xây dựng mô hình “Trẻ em toàn xã biết bơi”, “Học sinh toàn trường biết bơi”.

- Giảm 5-10% trẻ em tử vong do đuối nước.

- Hỗ trợ tối đa 100 triệu đồng/bể bơi di động cho các xã miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

- Hỗ trợ tối đa 20 triệu đồng/xã/năm để tổ chức dạy bơi cho trẻ em nghèo, cận nghèo.

Những điểm nghẽn từ thực tiễn

bna_boi05895-083139f89b5120dae2a81f6e9d3d962c(1).jpg
Tuy nhiên, quá trình vận hành các bể bơi, việc dạy học bơi cho trẻ em gặp nhiều khó khăn. Ảnh: T.P

Tuy nhiên, phía sau những kết quả tích cực từ cơ sở, quá trình triển khai nghị quyết cũng bộc lộ những khó khăn, vướng mắc khiến mục tiêu phổ cập bơi cho trẻ em chưa thể lan tỏa đồng đều trên toàn tỉnh. Theo ông Vũ Văn Nam, Phó Trưởng phòng Quản lý Thể thao, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nghệ An, Nghị quyết số 09 được xem là một chủ trương đúng đắn, tạo cú hích quan trọng đối với phong trào dạy và học bơi ở cơ sở. Tuy nhiên, kết quả triển khai thực tế chưa đạt như kỳ vọng khi năm 2024 có 99 đơn vị được UBND tỉnh cấp kinh phí nhưng chỉ hơn 60 đơn vị thực hiện đầu tư lắp đặt bể bơi; sang năm 2025, con số này tiếp tục giảm xuống còn 49 đơn vị.

Bên cạnh những kết quả bước đầu, bài toán khó nhất vẫn nằm ở khả năng đáp ứng nguồn lực của cơ sở. Ngoài phần kinh phí đối ứng, các địa phương còn phải chủ động quỹ đất, hệ thống cấp thoát nước và các hạng mục phụ trợ để bể bơi có thể vận hành hiệu quả. Việc huy động nguồn xã hội hóa nhằm duy trì hoạt động sau đầu tư cũng không dễ, nhất là ở những địa bàn còn nhiều khó khăn".

Ông Vũ Văn Nam, Phó Trưởng phòng Quản lý Thể thao, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nghệ An

Bên cạnh đó, quá trình triển khai mô hình chính quyền hai cấp trong năm 2025 đã tác động nhất định đến công tác mua sắm, lắp đặt bể bơi. Do nguồn kinh phí hỗ trợ được phân bổ qua cấp huyện trước khi chuyển về các xã đăng ký thực hiện, việc giải ngân ở một số nơi chưa kịp thời, khiến tiến độ bị kéo dài. Hệ quả là vẫn còn những địa phương dù rất cần và đủ điều kiện hưởng chính sách nhưng chưa thể triển khai đúng thời gian dự kiến.

bna_0748.jpg
Ngoài phần kinh phí đối ứng, các địa phương còn phải chủ động quỹ đất, hệ thống cấp thoát nước và các hạng mục phụ trợ để bể bơi có thể vận hành hiệu quả. Ảnh: H.T

Những khó khăn ấy không chỉ xuất hiện ở giai đoạn đầu tư mà còn kéo dài trong suốt quá trình vận hành. Tại huyện Kỳ Sơn cũ, sau khi các bể bơi được đưa vào sử dụng, nhiều trường học mới bắt đầu đối mặt với những bài toán phát sinh từ thực tiễn. Ở một số xã vùng cao, nguồn nước sinh hoạt vốn đã khan hiếm, đặc biệt trong mùa nắng nóng. Các trường phải tận dụng nước từ khe suối hoặc các nguồn nước tự nhiên để vận hành bể bơi, đồng thời thường xuyên xử lý cặn bẩn và khử khuẩn để bảo đảm an toàn cho học sinh.

Theo thầy Đào Công Quang, lượng nước cần thiết để vận hành một bể bơi khá lớn, kéo theo chi phí điện, nước và hóa chất xử lý phát sinh đáng kể. Trong khi đó, nguồn hỗ trợ hiện nay chủ yếu tập trung cho đầu tư ban đầu. Điều này khiến các trường học, đặc biệt ở khu vực miền núi, phải tự cân đối kinh phí để duy trì hoạt động thường xuyên. Vì vậy, dù nhà trường rất mong muốn duy trì hoạt động của bể bơi, song cần có thêm sự hỗ trợ về chủ trương, cách thức phối hợp với chính quyền và vận dụng linh hoạt các nguồn lực.

bna_boi05835-9133ffde560341a6df00c61d9588eea3(1).jpg
Nhiều giáo viên dạy bơi ở cơ sở cho biết, để duy trì và mở rộng các lớp học bơi trong thời gian tới, rất cần sự quan tâm hỗ trợ từ chính sách, nhất là đối với kinh phí vận hành và đào tạo đội ngũ giáo viên. Ảnh: T.P

Tại xã Thành Bình Thọ, một bài toán khác lại đang được đặt ra. Khi bể bơi được đưa vào sử dụng và nhu cầu học bơi của học sinh ngày càng tăng, áp lực về nhân lực giảng dạy bắt đầu xuất hiện. Theo cô Lê Thị Quý, Phó Hiệu trưởng Trường Tiểu học Thành Bình Thọ, số học sinh đăng ký học bơi mỗi dịp hè luôn vượt khả năng đáp ứng của đội ngũ giáo viên hiện có. Trong khi đó, việc tổ chức dạy bơi không chỉ cần giáo viên được đào tạo chuyên môn mà còn đòi hỏi lực lượng hỗ trợ, giám sát và cứu hộ nhằm bảo đảm an toàn tuyệt đối cho học sinh.

Là người trực tiếp giảng dạy các lớp học bơi tại Thành Bình Thọ, thầy Hoàng Văn Hải cho biết mỗi khóa học kéo dài từ 15-20 buổi với khoảng 80 học sinh, chia thành nhiều ca học khác nhau. Dù có đóng góp một phần của học sinh nhưng nguồn thu này không đủ trang trải các khoản sửa chữa, vệ sinh, lọc nước và hóa chất xử lý nước.

“Tiền công thực nhận không nhiều, trong khi giáo viên phải dành gần như cả ngày ở bể bơi để hướng dẫn các em. Tuy vậy, chúng tôi vẫn cố gắng vì mong muốn có thêm nhiều học sinh được trang bị kỹ năng bơi lội và phòng, chống đuối nước”, thầy Hải chia sẻ. Theo thầy Hải, để duy trì và mở rộng các lớp học bơi trong thời gian tới, rất cần sự quan tâm hỗ trợ từ chính sách, nhất là đối với kinh phí vận hành và đào tạo đội ngũ giáo viên.

bna_0730.jpg
Cần hoàn thiện chính sách để đưa mục tiêu giảm đuối nước ở trẻ em đi vào chiều sâu, bền vững. Ảnh: T.P

Sau hơn hai năm triển khai, Nghị quyết số 09/2023/NQ-HĐND đã cho thấy hiệu quả thiết thực trong việc mở rộng cơ hội học bơi và trang bị kỹ năng an toàn trong môi trường nước cho trẻ em. Từ những kết quả và cả những khó khăn phát sinh từ thực tiễn, việc tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện chính sách sẽ là cơ sở quan trọng để đưa mục tiêu giảm đuối nước trẻ em đi vào chiều sâu và bền vững hơn.

Thanh Phúc - Hoài Thu