Bi kịch của người lính trở về từ chiến trường Quảng Trị
Tại xã Cát Ngạn, tỉnh Nghệ An (xã Thanh Nho, huyện Thanh Chương cũ), có một cựu chiến binh gầy gò, khắc khổ, bước đi chậm chạp, hai tay run vì bệnh parkinson.
Đó là ông Hoàng Văn Khâm (Hoàng Khâm), sinh năm 1950 - người tham gia trực tiếp trận đánh Thành cổ Quảng Trị. Sau trận đánh đó, Hoàng Văn Khâm được thưởng Huân chương Chiến công, nhưng mang trong mình những vết thương nguy hiểm - vết thương trên da thịt, trong máu và cả vết thương tinh thần, mà hàng chục năm sau còn nhức nhối.
Năm 1971, Mỹ tiếp tục oanh kích, phá hoại các tuyến đường, kho tàng, trạm trại,… ở miền Bắc, nhằm cắt đứt việc tiếp tế từ hậu phương cho tiền tuyến. Ở miền Nam, Mỹ - ngụy tiến hành các cuộc hành quân quy mô lớn trên các vùng chiến lược của 3 nước Đông Dương, trong đó cuộc hành quân Lam Sơn 719 từ Trị - Thiên, đánh sang khu vực Đường 9 - Nam Lào.

Theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, tháng 8/1971, chàng trai 21 tuổi Hoàng Văn Khâm đã viết đơn tình nguyện lên đường nhập ngũ. Sau 3 tháng huấn luyện chiến sĩ mới tại Đoàn 22A (Quân khu 4), anh cùng đồng đội vào Nam, trực tiếp chiến đấu trên chiến trường Quảng Trị, trong đội hình Trung đoàn 48 - còn gọi là “Trung đoàn Thạch Hãn”, thuộc Sư đoàn 320B.
Trong chiến dịch Quảng Trị, Trung đoàn 48 mang mật danh “Quang Sơn”, làm nhiệm vụ giữ vững Thành cổ Quảng Trị. Anh cùng đồng đội đã dũng cảm, chiến đấu ngoan cường, góp phần đưa chiến thắng Quảng Trị lên bàn Hội nghị Paris, buộc Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Đó là cuộc đụng độ vô cùng ác liệt. Tương quan lực lượng nghiêng hẳn về phía địch. Mưa liên tục, nước sông Thạch Hãn lên cao, việc tiếp tế vũ khí, lương thực, thuốc men và đưa thương binh, tử sĩ ra tuyến sau rất khó khăn. Địch đã huy động tối đa các phương tiện hiện đại như pháo giàn, pháo hạm từ ngoài biển, dùng B52 rải thảm, xe tăng và các lực lượng thủy quân lục chiến, các lữ dù và Liên đoàn 1 Biệt động quân,… tổ chức tấn công ta liên tục, hòng chiếm bằng được Thành cổ. Đảng ủy Trung đoàn đã ra nghị quyết, nêu cao quyết tâm sắt đá: “Quang Sơn còn - Quảng Trị còn”, như một mệnh lệnh thôi thúc cán bộ, chiến sĩ.
Ông Hoàng Văn Khâm kể lại: Trong tháng 9/1972, ta và địch giành giật nhau từng mét hào, từng ụ súng. Địch dùng máy bay vận tải C.130 thả quả bom đặc biệt “Daisy cutter” nặng 7 tấn, có sức công phá khủng khiếp. Quả bom có dù trắng bung ra, khi tới độ cao cách mặt đất chừng 30 mét thì phát nổ. Cả một góc phía Đông Nam Thành cổ bị san phẳng thành bình địa. Từ đây, địch tăng cường tấn công lấn vào trung tâm, chúng dùng súng phun lửa bắn vào các chốt của ta, sự cầm cự của đơn vị ông được tính từng giờ. Hàng chục ngàn quả pháo, nhiều tốp máy bay dội bom liên tục xuống Trung đoàn Quang Sơn,…
Đất trời rung chuyển, đảo điên như ngày tận thế. Giữa ban ngày mà bọn thủy quân lục chiến địch tổ chức tấn công liên tiếp. Cứ mỗi lần bị quân ta đánh bật ra, chúng lại dùng phi pháo đáp trả, lấn tới. Các ổ hỏa lực của ta đã bị lộ, địch dùng pháo tăng bắn phá. Nhiều đồng đội đã chiến đấu ngoan cường và anh dũng hy sinh. Một quả pháo địch nổ ngay hố chiến đấu, anh bị thương nặng và ngất xỉu. Không còn khả năng chiến đấu, anh được đồng đội dùng thuyền cao su đưa qua sông Thạch Hãn, về tuyến sau.
.jpg)
Sau trận chiến ác liệt đó, Hoàng Văn Khâm được thưởng Huân chương Chiến công, nhưng mang trong mình những vết thương nguy hiểm - vết thương trên da thịt, trong máu và cả vết thương tinh thần, mà hàng chục năm sau còn nhức nhối. Ông được điều trị và về Đoàn An dưỡng 405 (Quân khu 4). Khi sức khỏe được hồi phục, anh tiếp tục phục vụ trong quân đội. Tháng 7/1977, được xuất ngũ về địa phương.
Như bao người lính thời ấy, ông Khâm trở về hậu phương khi đất nước, quê hương đầy rẫy khó khăn thời hậu chiến. Trong trận lụt lịch sử năm 1978, nhà ông bị ngập nặng, toàn bộ giấy tờ như: Lý lịch quân nhân, giấy chứng nhận bị thương, quyết định phục viên, các bằng khen và Huân, Huy chương,… bị lụt cuốn mất.
Do mất hết giấy tờ, ông không làm được chế độ thương binh, chất độc da cam. Các đồng đội cùng nhập ngũ hoặc cùng chiến đấu với ông đã hy sinh gần hết; đơn vị cũ đã giải thể… Ông đến nhiều cơ quan có thẩm quyền trình bày, nhưng vì không đủ hồ sơ theo quy định nên không thể được hưởng các chế độ chính sách theo quy định của Nhà nước.
Ông lặng lẽ với ruộng đồng, với tuổi xế chiều ở quê nhà, hàng ngày chống chọi với vết thương và bệnh tật do hậu quả của chiến tranh. Nhưng, nỗi đau lớn nhất của đời ông, không phải là vết thương trên cơ thể, không chỉ là sự nghèo khó, mà là đứa cháu nội đích tôn bị di chứng chất độc da cam từ ông truyền lại. Thân thể cháu không lành lặn, trí não không bình thường, chân tay co quắp, không đi lại được. Hậu quả cuộc chiến tàn bạo của Mỹ - ngụy để lại mà cháu không hề biết tới,... thật là đau đớn, xót xa.
Chỉ có một “ánh sáng le lói” với ông Khâm – một bằng chứng duy nhất còn lại mà ông có được là bức ảnh của ông do phóng viên chiến trường Báo Quân đội Nhân dân Đoàn Công Tính chụp tại chiến trường Thành cổ, sau một trận chiến đấu ác liệt. Bức ảnh nổi tiếng này từng in trên nhiều tờ báo, phim ảnh, hiện đang được trưng bày trang trọng ở Bảo tàng Thành cổ Quảng Trị.

Ở tuổi 76, cựu chiến binh Thành cổ Quảng Trị Hoàng Văn Khâm, sống trong cảnh già yếu, bệnh tật bủa vây, cuộc sống chật vật, nghèo khó nơi quê nhà. Chiến tranh đã lấy đi sức khỏe, tuổi xuân và nhiều thứ khác của ông. Nhưng ký ức về những tháng ngày đạn bom Thành cổ vẫn còn nguyên vẹn trong ông.
Ông nguyên là chiến sĩ của Trung đoàn 48, Sư đoàn 320B, trực tiếp 81 ngày đêm chiến đấu (28/6/1972 - 16/9/1972) bảo vệ Thành cổ Quảng Trị. Đây là trận chiến khốc liệt, nơi mà các sư đoàn chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích Quảng Trị đã kiên cường giữ từng tấc đất; nơi hứng chịu 328.000 tấn bom đạn, tương đương 7 quả bom nguyên tử mà Mỹ từng ném xuống Hirosima, Nagaxaki (Nhật Bản).
Trận chiến này được ví như một “khúc tráng ca bất tử”, khẳng định tinh thần “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước” và “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của quân và dân ta.

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng trách nhiệm với những người có công thì không thể khép lại. Hình ảnh của ông và cháu ông là nỗi day dứt, nhắc nhở chúng ta: Sự hy sinh, mất mát thầm lặng của những người lính năm xưa không được phép lãng quên. Và sự tri ân không chỉ dừng lại ở ký ức, hoài niệm,… mà cần được thể hiện bằng sự quan tâm, sẻ chia cụ thể, thiết thực trong cuộc sống hôm nay./.