Kinh tế

Kỳ vọng đột phá từ Đề án phát triển cây, con chủ lực giai đoạn mới

Nguyễn Hải 27/07/2026 18:26

Ngày 3/7, UBND tỉnh Nghệ An ban hành Quyết định số 2948/QĐ-UBND phê duyệt Đề án phát triển cây trồng, vật nuôi chủ lực (gọi tắt là cây, con chủ lực) gắn liền với công nghiệp chế biến, bảo quản và liên kết chuỗi giá trị đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. So với trước đây, đề án này đã tích hợp nhiều chương trình dự án và có những điểm bổ sung nhằm tạo đòn bẩy mạnh mẽ, đưa nền nông nghiệp của tỉnh vươn lên một tầm cao mới.

Những điểm mới nổi bật

Sắn trở thành 1 trong 9 cây trồng chủ lực: Một trong những điểm mới của Đề án cây, con chủ lực giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045 là rà soát, thu gọn hơn so với giai đoạn trước khoảng trên dưới 20 cây trồng, vật nuôi. Cụ thể, giai đoạn này, đề án thống nhất chọn 9 cây trồng chủ lực gồm: Lúa, sắn nguyên liệu, mía nguyên liệu, rau, củ, quả, chè công nghiệp, cam, dứa, dược liệu, gỗ nguyên liệu và 6 vật nuôi chủ lực là lợn, gia cầm, bò thịt, bò sữa, tôm, cá.

 Thu hoạch sắn
Thu hoạch sắn cao sản tại xã Thành Bình Thọ (huyện Anh Sơn cũ).

Kỹ sư Nguyễn Văn Công - Chủ nhiệm Đề án thuộc Đoàn quy hoạch nông nghiệp và thủy lợi tỉnh chia sẻ: Ngoài việc tiếp tục các cây trồng chủ lực trước đây như lúa, mía, chè, cam, rau, củ, quả… thì một trong những cây trồng chủ lực mới là cây sắn. Sở dĩ tỉnh đưa cây sắn vào là do cây sắn ở Nghệ An có tiềm năng rất lớn khi mỗi năm xuất khẩu sản phẩm sắn mang về trên gần 130 triệu USD. Với diện tích gần 10 ngàn ha, sắn đã và đang là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh. Hiện sản phẩm chế biến từ sắn cũng ngày càng đa dạng, từ tách chiết thành đường, tinh bột, cồn sinh học nên có giá trị ngày càng cao.

 Canh tác lúa vụ xuân
Theo đề án, Nghệ An phấn đấu ổn định 163.500 ha lúa, sản lượng 932.000 tấn/năm; trong đó giống lúa chất lượng cao chiếm trên 90%. Trong ảnh sản xuất lúa vụ xuân tại Quỳnh Văn. Ảnh: Nguyễn Hải

Hàng năm, sản lượng sắn củ tươi dao động từ 250-270 ngàn tấn được 3 nhà máy chế biến công suất tương đối lớn tại các xã Đại Đồng, Nghĩa Lộc và Vĩnh Tường thu mua, chế biến. Theo Đề án này, tỉnh sẽ có những chính sách hỗ trợ để mở rộng phát triển thêm diện tích tại các xã gần nhà máy, phấn đấu đến năm 2030 đạt 12.000 ha. Song song với đó, tỉnh đôn đốc các đơn vị như Trung tâm Khuyến nông tỉnh tăng cường phối hợp với địa phương trọng điểm sắn đầu tư nâng cao chất lượng giống để hạn chế sâu bệnh, ứng dụng khoa học kỹ thuật xen canh để đạt hiệu quả tối đa. Hiện tại, với năng suất bình quân khoảng 27-20 tấn/ha, nên mỗi ha sắn cho thu nhập từ 55-60 triệu đồng.

 Mô hình sắn
Mô hình khảo nghiệm giống sắn mới do Trung tâm Khuyến nông tỉnh hỗ trợ xã Thành Bình Thọ triển khai năm 2025. Ảnh: Nguyễn Hải

Tăng cường đầu tư cho cây dứa: Mặc dù dứa đã trở thành cây trồng chủ lực từ giai đoạn trước nhưng gần đây mới được tỉnh quan tâm thực sự khi có những chỉ đạo quyết liệt và cụ thể từ cuối năm 2025. Theo đề án, người trồng dứa theo quy hoạch, ngoài được hỗ trợ kinh phí làm đất, giống và đầu tư nước tưới theo Nghị quyết 34/NQ, UBND tỉnh cũng quan tâm hỗ trợ ở vùng nguyên liệu dứa trọng điểm thuộc chương trình phối hợp của UBND tỉnh với Công ty CP Thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao (Ninh Bình).

Tại đây, sau khi khảo sát, tỉnh đã chỉ đạo các địa phương chuyển đổi cơ cấu cây trồng khác sang trồng dứa theo kế hoạch của tỉnh. Đổi lại, ngay trong năm 2026, Công ty CP Thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao sẽ khởi công xây dựng nhà máy chế biến và cam kết thu mua dứa cho bà con.

Kiểm tra giống
Kiểm tra chất lượng giống sắn sau khảo nghiệm.

Ông Ngô Đức Quỳnh - Giám đốc Trung tâm Giống nông nghiệp Nghệ An cho biết: Trong khi các nông sản khác tìm kiếm đầu ra khó khăn thì cây dứa với đặc tính chịu hạn, dứa rất phù hợp với thổ nhưỡng Nghệ An. Hiện nhu cầu tiêu dùng sản phẩm dứa từ các nước châu Âu, Hàn Quốc, Trung Đông… rất cao nên tiềm năng xuất khẩu lớn. Vì thế, các sản phẩm dứa phải đáp ứng điều kiện tiêu chuẩn chế biến phục vụ xuất khẩu thì sẽ bền vững và yên tâm hơn.

Theo định hướng, cùng với duy trì diện tích cây công nghiệp khác như chè, mía, cam và cây dược liệu thì Nghệ An đặt mục tiêu đưa diện tích dứa nguyên liệu từ 3.000 ha hiện nay lên 5 ngàn ha vào năm 2027 và đạt 13 ngàn ha vào năm 2030. Đáng chú ý, có 8.000 ha dứa ứng dụng công nghệ cao để phục vụ xuất khẩu. Rút kinh nghiệm từ các cây trồng khác, theo Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, UBND tỉnh và Sở Nông nghiệp và Môi trường giao Trung tâm Giống nông nghiệp tỉnh đảm bảo nguồn cung và kiểm soát chặt chẽ chất lượng nguồn giống sạch bệnh để hạn chế tối đa các bệnh ảnh hưởng đến chất lượng xuất khẩu.

bna_-anh-dua.jpg
Lãnh đạo UBND tỉnh, Sở Nông nghiệp và Môi trường kiểm tra vùng nguyên liệu dứa tại xã Đại Đồng. Ảnh: CSCC

Gắn xây dựng vùng nguyên liệu với sản xuất và chế biến: Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường, sở dĩ phải sớm ban hành Đề án cây trồng, vật nuôi chủ lực giai đoạn mới là vì đề án cũ đã hết hiệu lực và không còn phù hợp. Bên cạnh đó, thực tế sau hơn 4 năm thực hiện đề án giai đoạn cũ, một vài sản phẩm chủ lực dù vẫn hoàn thành chỉ tiêu về tỷ trọng giá trị sản xuất và kim ngạch xuất khẩu, nhưng tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất mới chỉ ở mức "suýt soát" đạt.

Đáng chú ý, trong 7 nhóm sản phẩm với khoảng 20 sản phẩm, chỉ có sản phẩm gạo, sữa tươi, thủy sản và gỗ vượt kế hoạch, còn lại một số cây, con là thế mạnh của tỉnh, từng được kỳ vọng lớn như cam, bưởi, dứa, mía nguyên liệu hay thịt lợn và thịt gia cầm chưa đạt mục tiêu; thậm chí như cây cam còn bị chặt bỏ hàng loạt...

Khuyến nông tỉnh đồng hành hỗ trợ các mô hình chăn nuôi VietGaHP. Ảnh Nguyễn Hải
Trung tâm Khuyến nông tỉnh đồng hành hỗ trợ các mô hình chăn nuôi VietGaHP. Ảnh: Nguyễn Hải

Chính vì thế, một trong những điểm mới của đề án yêu cầu khi phát triển một cây con nguyên liệu thì phải gắn với cơ sở nhà máy để thu mua, chế biến. Ngược lại, các sản phẩm có tiềm năng và đầu ra lớn, khi đã đầu tư nhà máy, dây chuyền chế biến thì tập trung, quyết liệt chỉ đạo để theo lộ trình có nguyên liệu cho nhà máy hoạt động.

Ông Võ Trọng Hợi – Trưởng Phòng phòng Quản lý kỹ thuật và Khoa học công nghệ, Sở Nông nghiệp và Môi trường cho biết: Trước đây, Đề án phát triển cây, con chủ lực mới bao gồm rất nhiều đề án riêng theo từng cây trồng, vật nuôi nhưng nay 9 cây trồng và 6 vật nuôi chủ lực được đưa vào chung 1 Đề án và thống nhất chỉ đạo và hỗ trợ từ cây con, vật tư để hình thành vùng nguyên liệu cho đến khâu thu mua, chế biến và cuối cùng ứng dụng công nghệ để tiếp thị, tiêu thụ trên thị trường.

 Nhà máy sắn Hoa Sơn
Nhà máy Chế biến tinh bột sắn Hoa Sơn của Tập đoàn Á Châu đầu tư tại xã Anh Sơn. Ảnh: CSCC

Lưu ý về nguồn lực và cơ chế hỗ trợ

Ông Hồ Đăng Tâm - Giám đốc HTX Dịch vụ Nông nghiệp Quỳnh Anh đón nhận Đề án phát triển cây trồng, vật nuôi chủ lực với tâm thế rất tích cực khi cho rằng đây là cơ hội mới cho nông sản tỉnh nhà. Tuy nhiên, từ kinh nghiệm xây dựng hồ sơ mã vùng trồng, thực hiện sản xuất hữu cơ và VietGAP tại HTX những năm gần đây, ông kiến nghị cần hỗ trợ, hướng dẫn từ các sở, ngành chức năng.

Cũng theo ông Tâm, khác với sản xuất rau màu thông thường, để sản xuất vùng rau an toàn, hữu cơ chuẩn VietGAP và kèm theo đó xây dựng mã vùng trồng, cần kinh phí và hồ sơ kỹ thuật khá công phu. Ví dụ, giai đoạn 2020-2025, HTX xây dựng cánh đồng sản xuất hữu cơ 4 ha để đạt chuẩn xuất khẩu phải mất 3 năm và kinh phí gần 10 tỷ đồng, trong đó tỉnh hỗ trợ đổi mới công nghệ gần 7 tỷ đồng thì HTX mới làm được. Vì thế, bên cạnh nguồn lực kinh phí, điều mà nông dân và HTX cần là hỗ trợ, hướng dẫn kỹ thuật để hồ sơ sản phẩm đạt chuẩn vào chuỗi cửa hàng chất lượng cao. Sản phẩm hữu cơ khi đạt chuẩn thì phải có giá cao hơn sản phẩm đại trà mới khuyến khích được đầu tư vào sản xuất hữu cơ, công nghệ cao.

Mục tiêu Đề án cây trồng vật nuôi chủ lực giai đoạn này không chỉ góp phần nâng tầm giá trị gia tăng, hiệu quả và bền vững mà còn từng bước chuyển đổi sang một nền nông nghiệp sinh thái, kinh tế tuần hoàn, ứng dụng công nghệ cao và tích hợp chuyển đổi số để đáp ứng hoàn hảo yêu cầu của thị trường nội địa lẫn xuất khẩu.

Do đề án này không bố trí nguồn kinh phí hỗ trợ trực tiếp cho các cây trồng vật nuôi, nên các địa phương, HTX cần bám vào chính sách được quy định Nghị quyết 34/NQ của Hội đồng nhân dân tỉnh về hỗ trợ phát triển nông nghiệp; đồng thời, chủ động ưu tiên lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia hoặc chương trình dự án khác để tổ chức triển khai.

Ông Võ Trọng Hợi - Trưởng phòng Quản lý Khoa học kỹ thuật và Công nghệ, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh chia sẻ

bna_ocop-4-e8d835823dad1f6990b4b76a62e60d2b.jpg
Tăng cường chế biến sâu, xây dựng nhãn hiệu truy xuất nguồn gốc cho sản phẩm, qua đó gia tăng giá trị. Ảnh: Nguyễn Hải

Để hoàn thành chỉ tiêu chế biến và đầu ra bền vững cho các sản phẩm chủ lực, tỉnh phấn đấu duy trì và phát triển từ 100 đến 150 chuỗi liên kết "sản xuất - chế biến - tiêu thụ", quy tụ sự tham gia của khoảng 150-165 doanh nghiệp và 300 HTX. Phấn đấu đến năm 2045 sẽ kiến tạo thành công nền nông nghiệp tỉnh hiện đại, đậm chất sinh thái, đạt hiệu quả cao và hội nhập quốc tế; trong đó, 100% cây trồng, vật nuôi chủ lực sẽ được vận hành theo mô hình vùng hàng hóa quy mô lớn, có hàm lượng công nghệ cao, nông nghiệp số và ngày càng có nhiều mô hình sản xuất theo hướng khép kín tuần hoàn.

Giai đoạn 2026-2030 tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất của các cây trồng, vật nuôi chủ lực bình quân 5-5,5%/năm; nâng tỷ trọng đóng góp của nhóm sản phẩm chủ lực từ 60-65% giai đoạn trước lên mức 80-85% tổng giá trị toàn ngành nông, lâm, thủy sản của tỉnh. Đồng thời, kim ngạch xuất khẩu của các sản phẩm mũi nhọn phải chiếm từ 93-95% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành nông nghiệp (tăng so với mức 70-75% giai đoạn trước).

Trích Đề án cây trồng, vật nuôi chủ lực Nghệ An giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045

Nguyễn Hải