Sức khỏe

Nghệ An đồng bộ các giải pháp loại trừ viêm gan vi rút

Thành Chung 28/07/2026 08:06

Viêm gan vi rút là một trong những thách thức y tế công cộng lớn tại Việt Nam và trên thế giới, có thể gây xơ gan, ung thư gan và nhiều biến chứng nguy hiểm. Hướng tới mục tiêu loại trừ viêm gan vi rút vào năm 2030, ngành Y tế Việt Nam, trong đó có Nghệ An, đang triển khai đồng bộ các giải pháp dự phòng, tiêm chủng và mở rộng điều trị.

Tiêm chủng mở rộng và điều trị đạt hiệu quả cao

Viêm gan vi rút đang gây gánh nặng lớn đối với y tế toàn cầu. Năm 2024, thế giới ghi nhận khoảng 287 triệu người mắc viêm gan B và C mạn tính, tương đương 3% dân số. Mỗi năm, căn bệnh này cướp đi khoảng 1,3 triệu sinh mạng, trong đó khoảng 1,1 triệu trường hợp tử vong do viêm gan B.

04c6b650-vi-tri-tiem-viem-gan-b-so-sinh-thuong-chi-dinh-vao-vung-truoc-ben-dui copy
Tại Nghệ An, tỷ lệ trẻ được tiêm vắc-xin viêm gan B trong 24 giờ đầu sau sinh tăng từ 76,2% năm 2021 lên 91,5% năm 2024. Ảnh tư liệu: CDC Nghệ An

Tại Việt Nam, viêm gan vi rút vẫn là nguyên nhân hàng đầu gây ung thư gan. Năm 2022, ung thư gan là loại ung thư phổ biến thứ hai, chiếm 13,6% tổng số ca mắc; khoảng 90% trường hợp có liên quan đến viêm gan B hoặc viêm gan C. Hiện cả nước ước tính có khoảng 6,5 triệu người nhiễm viêm gan B, 1 triệu người nhiễm viêm gan C và khoảng 40.000 ca tử vong mỗi năm do các bệnh lý liên quan.

Để hiện thực hóa mục tiêu loại trừ viêm gan vi rút vào năm 2030, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 4531/QĐ-BYT ngày 24/9/2021. Tại Nghệ An, công tác phòng, chống viêm gan vi rút được cụ thể hóa bằng các kế hoạch hành động giai đoạn 2022-2025, phù hợp với đặc điểm của địa phương có hơn 3,4 triệu dân và địa bàn rộng. Giai đoạn 2021-2025, công tác tiêm chủng vắc-xin viêm gan B đạt nhiều kết quả tích cực. Chương trình tiêm chủng mở rộng đã được triển khai tại 100% bệnh viện và cơ sở y tế có phòng sinh. Tỷ lệ trẻ được tiêm vắc-xin viêm gan B trong 24 giờ đầu sau sinh tăng từ 76,2% năm 2021 lên 91,5% năm 2024. Tỷ lệ trẻ dưới 1 tuổi được tiêm đủ 3 liều cũng đạt 96,2%, vượt chỉ tiêu quốc gia. Công tác bảo đảm an toàn truyền máu được thực hiện nghiêm ngặt với 100% đơn vị máu được sàng lọc. Toàn bộ đơn vị máu đều được sàng lọc bằng kỹ thuật xét nghiệm axit nucleic, giúp phát hiện sớm vi rút ngay trong giai đoạn "cửa sổ". Bên cạnh đó, tỷ lệ tiêm an toàn tại các cơ sở y tế luôn được duy trì gần như tuyệt đối, góp phần hạn chế lây nhiễm chéo trong bệnh viện.

Xét nghiệm sàng lọc, sản xuất các chế phẩm máu copy
Công tác bảo đảm an toàn truyền máu được thực hiện nghiêm ngặt với 100% đơn vị máu được sàng lọc. Ảnh: Thành Chung

Điều trị viêm gan C đã có bước tiến lớn nhờ thuốc kháng vi rút tác dụng trực tiếp, với tỷ lệ khỏi bệnh lên tới 96%. Giai đoạn 2021-2024, cả nước có hơn 27.110 bệnh nhân được điều trị; nhiều người thuộc nhóm nguy cơ cao như người nhiễm HIV và người tiêm chích ma túy được tiếp cận dịch vụ nhờ sự hỗ trợ của các dự án quốc tế. Tỷ lệ người đồng nhiễm HIV/HCV được điều trị viêm gan C gần như đạt 100% trong nhiều năm liên tiếp.

Nhiều rào cản ảnh hưởng đến mục tiêu loại trừ bệnh.

Dù đạt nhiều kết quả tích cực, mục tiêu loại trừ viêm gan vi rút vào năm 2030 tại Nghệ An vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Những "điểm nghẽn" không chỉ nằm ở chuyên môn mà còn xuất phát từ rào cản về nguồn lực, tài chính và công tác quản lý.

Chi phí vẫn là rào cản lớn trong công tác phòng, chống viêm gan vi rút. Hiện, xét nghiệm sàng lọc viêm gan B và C chưa được bảo hiểm y tế chi trả, khiến nhiều người, trong đó có phụ nữ mang thai, phải tự thanh toán. Vì vậy, năm 2025, tỷ lệ phụ nữ mang thai được xét nghiệm HBsAg trên toàn quốc mới đạt 53%, thấp hơn mục tiêu 70%. Đối với viêm gan C, bảo hiểm y tế chỉ thanh toán khoảng 50-60% chi phí thuốc kháng vi rút tác dụng trực tiếp (DAA), trong khi thuốc điều trị viêm gan B thế hệ mới cũng chưa được chi trả đầy đủ, làm hạn chế khả năng tiếp cận điều trị tối ưu của người bệnh.

Tiêm vaccine ngừa viêm gan B cho phụ nữ trước khi mang thai. Ảnh tư liệu Thành Chung copy
Tiêm vắc-xin ngừa viêm gan B cho phụ nữ trước khi mang thai. Ảnh: Thành Chung

Bên cạnh đó, hệ thống giám sát vẫn còn hạn chế do dữ liệu xét nghiệm, chẩn đoán và điều trị chưa được liên thông, khiến số liệu ca bệnh chưa phản ánh đầy đủ thực tế. Việc thiếu nền tảng đồng bộ hóa dữ liệu giữa xét nghiệm, chẩn đoán và tiêm chủng cũng ảnh hưởng đến hiệu quả giám sát dịch tễ.

Năng lực xét nghiệm chuyên sâu và điều trị viêm gan vi rút hiện vẫn tập trung chủ yếu ở tuyến tỉnh và Trung ương. Tuyến y tế cơ sở chưa đủ điều kiện xét nghiệm tải lượng vi rút và triển khai điều trị, khiến người dân vùng sâu, vùng xa gặp khó khăn trong tiếp cận dịch vụ. Tình trạng sinh con tại nhà ở một số xã miền núi vẫn còn, ảnh hưởng đến tỷ lệ trẻ được tiêm vắc-xin viêm gan B liều sơ sinh đúng thời gian khuyến cáo.

Để hiện thực hóa mục tiêu loại trừ viêm gan vi rút vào năm 2030, các chuyên gia cho rằng cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết là mở rộng chính sách bảo hiểm y tế đối với xét nghiệm sàng lọc và thuốc điều trị, đặc biệt đưa xét nghiệm sàng lọc cho phụ nữ mang thai vào danh mục chi trả và nâng mức hỗ trợ thuốc điều trị viêm gan C. Đồng thời, tăng cường năng lực xét nghiệm, chẩn đoán và điều trị tại tuyến huyện, tuyến xã; tích hợp dịch vụ điều trị HIV, viêm gan và các bệnh lây truyền qua đường tình dục nhằm sử dụng hiệu quả nguồn lực.

Bên cạnh đó, cần xây dựng hệ thống dữ liệu liên thông từ tiêm chủng, xét nghiệm đến điều trị, kết nối cả khu vực y tế tư nhân; đồng thời đẩy mạnh truyền thông số để nâng cao nhận thức, giảm kỳ thị đối với người mắc bệnh, nhất là các nhóm nguy cơ cao.

Cần đầu tư nâng cấp trang thiết bị xét nghiệm, mở rộng mạng lưới quản lý và điều trị tại y tế cơ sở; tăng cường sàng lọc trong cộng đồng, đặc biệt với nhóm nguy cơ cao; đồng thời hỗ trợ tiêm vắc-xin viêm gan B cho các đối tượng có nguy cơ phơi nhiễm như nhân viên y tế thường xuyên tiếp xúc với người bệnh.

Tiến sĩ, Bác sĩ Chu Trọng Trang - Giám đốc Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Nghệ An

Công tác phòng, chống viêm gan vi rút tại Việt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng đã đạt nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu loại trừ bệnh vào năm 2030, cần sự vào cuộc quyết liệt của các cấp, ngành trong bảo đảm nguồn lực, hoàn thiện chính sách bảo hiểm y tế và nâng cao năng lực hệ thống y tế. Đồng thời, mỗi người dân cần chủ động tầm soát, phát hiện và điều trị sớm để giảm nguy cơ biến chứng và hạn chế lây truyền trong cộng đồng.

h-21 copy
Mỗi người dân cần chủ động thực hiện các biện pháp phòng bệnh viêm gan vi rút. Ảnh tư liệu: CDC

Để nâng cao nhận thức của cộng đồng về bệnh viêm gan do vi rút, Tổ chức Y tế Thế giới chọn ngày 28/7 hằng năm là ngày Thế giới phòng chống viêm gan vi rút qua đó thúc đẩy mọi người tăng cường các hoạt động dự phòng, phát hiện sớm và điều trị đúng, góp phần giảm tỷ lệ mắc, giảm tử vong do các bệnh lý gan mạn tính, xơ gan và ung thư gan. Chủ đề hưởng ứng năm 2026 của Việt Nam là “Tăng tốc hành động loại trừ bệnh viêm gan vi rút và ngăn ngừa ung thư gan”.

Nhân ngày Thế giới phòng chống viêm gan vi rút năm nay (28/7), mỗi người dân hãy chủ động thực hiện các biện pháp phòng bệnh:

- Tiêm vắc-xin viêm gan B, vắc-xin viêm gan A đầy đủ và đúng lịch.

- Xét nghiệm viêm gan B, viêm gan C để phát hiện sớm bệnh.

- Thực hiện truyền máu và các thủ thuật y tế an toàn.

- Không dùng chung kim tiêm, dao cạo râu, bàn chải đánh răng và các vật dụng cá nhân có nguy cơ tiếp xúc với máu.

- Quan hệ tình dục an toàn.

- Duy trì chế độ dinh dưỡng hợp lý, hạn chế rượu bia và các chất gây hại cho gan.

- Tuân thủ điều trị và tái khám định kỳ theo hướng dẫn của nhân viên y tế đối với người đã được chẩn đoán mắc bệnh.

Thành Chung