Thách thức mới trong truyền nghề cho người trẻ
Hiện các làng nghề truyền thống Nghệ An đang đối mặt với một thách thức lớn: Dòng chảy truyền nghề có nguy cơ bị gián đoạn. Khi lớp nghệ nhân ngày một cao tuổi, lớp trẻ ít lựa chọn gắn bó với nghề bởi thu nhập bấp bênh, thị trường thu hẹp, câu chuyện giữ nghề không còn đơn thuần là bảo tồn kỹ thuật làm ra sản phẩm, mà là bài toán tạo dựng sinh kế và tìm hướng đi mới...

Thanh Nga - Diệp Thanh / Trình bày: Hồng Toại • 29/7/2026
*****
Hiện các làng nghề truyền thống Nghệ An đang đối mặt với một thách thức lớn: Dòng chảy truyền nghề có nguy cơ bị gián đoạn. Khi lớp nghệ nhân ngày một cao tuổi, lớp trẻ ít lựa chọn gắn bó với nghề bởi thu nhập bấp bênh, thị trường thu hẹp, câu chuyện giữ nghề không còn đơn thuần là bảo tồn kỹ thuật làm ra sản phẩm, mà là bài toán tạo dựng sinh kế và tìm hướng đi mới...

Tiếng búa gõ lên vành trống vang lên trong căn nhà nhỏ của ông Phạm Văn Bình (61 tuổi) ở khối Xuân Đồng, phường Vinh Phú nghe vừa lạ, vừa quen. Âm thanh từng là nhịp sống của cả một làng nghề, nay chỉ còn vang lên từ căn xưởng của ông Bình. Cả năm mới làm được một "mẻ trống", nên ông dồn hết tâm sức vào từng công đoạn, từ vành tang, mặt da đến từng chiếc đinh nhỏ.





Ông Bình kể, gia đình ông có 3 đời gắn bó với nghề làm trống. Từ ông nội, cha rồi đến ông, nghề được truyền nối qua nhiều thế hệ. Theo ông, trống Nghi Đức nổi tiếng bởi tiếng vang xa, âm thanh tròn, đanh và độ bền cao. Để tạo nên một chiếc trống đạt chuẩn, người thợ không chỉ cần nguyên liệu tốt mà còn phải có kinh nghiệm và đôi tay lành nghề. Từ việc mài từng tấm gỗ sao cho đều, tán da bò đến căng mặt trống, mọi công đoạn đều đòi hỏi sự chính xác để tạo nên âm thanh chuẩn xác.
Có thời điểm, những chiếc trống Nghi Đức xưa, nay là khối Xuân Đức, Xuân Đồng, phường Vinh Phú theo chân thương lái đến khắp các tỉnh, thành trong cả nước. Nhưng ký ức về thời hưng thịnh ấy giờ chỉ còn lại trong hoài niệm.


Điều khiến người nghệ nhân trăn trở nhất không phải là những ngày xưởng vắng đơn hàng, mà là nỗi lo nghề truyền thống sẽ mai một khi không còn người kế tục. Theo ông Bình, làm trống không đơn thuần là lao động thủ công mà là cả một quá trình tích lũy kinh nghiệm qua nhiều năm. "Muốn làm được một chiếc trống hay, người học phải thật kiên trì và gắn bó với nghề trong nhiều năm. Nhưng lớp trẻ bây giờ ít ai đủ kiên nhẫn ngồi hàng giờ trong xưởng, trong khi thu nhập lại bấp bênh, nên càng khó tìm được người nối nghiệp", ông Bình trầm ngâm.
Cái khó của nghề truyền thống nằm ở chỗ, sản phẩm có thể tồn tại nhưng người làm nghề lại ngày càng ít đi. Ông Bình nói: “Đơn giản như con trai tôi theo học nghề bố từ thuở niên thiếu nhưng nay cũng không mặn mà với nghề, cháu chỉ giúp tôi hoàn thiện chiếc trống ở những công đoạn đơn giản, còn tôi vẫn là người chủ lực”.



Không chỉ nghề làm trống, nhiều làng nghề khác cũng đang đối mặt với tình trạng tương tự. Khi những nghệ nhân, người thợ lâu năm trở thành “kho tư liệu sống” nhưng không tìm được người kế nghiệp, khoảng cách giữa quá khứ và hiện tại ngày càng rộng hơn. Đó là câu chuyện của làng nghề đóng tàu Trung Kiên nhộn nhịp một thuở; là nỗi lo của làng nghề hương trầm Quỳ Châu khi đầu ra không ổn định; là nghề dệt chiếu cói Hưng Hòa nay cũng chỉ còn 1 hộ với niềm đam mê và nỗi lo thất truyền còn trụ lại.
.jpeg)




Ông Nguyễn Đình Hưng - Phó Chi cục trưởng Chi cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Sở Nông nghiệp và Môi trường) cho biết: "Nhiều năm qua, tỉnh luôn quan tâm đến việc bảo tồn, khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống thông qua nhiều chính sách hỗ trợ về nguồn lực, hạ tầng và kinh phí. Với một làng nghề mới được thành lập, tỉnh hỗ trợ ban đầu 50 triệu đồng để tạo điều kiện phát triển. Tuy nhiên, để duy trì và khôi phục được một làng nghề trong bối cảnh kinh tế thị trường hiện nay là điều không hề dễ. Khó khăn lớn nhất vẫn là tìm được lực lượng kế cận. Khi lớp nghệ nhân ngày càng lớn tuổi, trong khi người trẻ không còn mặn mà với nghề, việc đào tạo, truyền nghề trở thành bài toán nan giải đối với nhiều làng nghề".


Theo ông Hưng, Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐND của HĐND tỉnh Nghệ An quy định nhiều chính sách ưu đãi nhằm hỗ trợ phát triển ngành nghề nông thôn. Đối với các làng nghề truyền thống được khôi phục, tỉnh hỗ trợ 2 tỷ đồng đối với làng nghề vùng đồng bằng và 3 tỷ đồng đối với làng nghề vùng miền núi để đầu tư, nâng cấp hệ thống hạ tầng như giao thông, điện, nước sạch, hệ thống tiêu thoát nước, xây dựng trung tâm, điểm trưng bày và giới thiệu sản phẩm. Tuy nhiên, đến nay số làng nghề đáp ứng đầy đủ các tiêu chí để được hưởng chính sách này vẫn còn rất ít.

Theo những người làm nghề lâu năm, trước đây, việc truyền nghề diễn ra khá tự nhiên. Con cháu sinh ra trong gia đình làm nghề, lớn lên bên tiếng máy, tiếng búa, quen với từng công đoạn sản xuất rồi dần trở thành người thợ. Nhưng xã hội thay đổi, lựa chọn nghề nghiệp của thế hệ trẻ cũng khác. Việc theo nghề của người trẻ còn phụ thuộc vào thị trường đầu ra.
Theo ông Nguyễn Đình Hưng - Phó Chi cục trưởng Chi cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh): Việc để người trẻ theo học nghề là điều rất khó khăn, bởi họ không nhìn thấy tương lai từ nghề, họ cũng không thể tạo ra giá trị vật chất từ những công đoạn vất vả tỉ mẩn mà cha ông cố sức gìn giữ. Vì thế, truyền nghề trong giai đoạn hiện nay không thể chỉ dừng ở việc dạy kỹ thuật làm sản phẩm. Muốn có người học nghề, trước hết phải tạo ra tương lai từ nghề.

Ông Võ Khắc Hùng - Phó Chủ tịch UBND phường Vinh Phú cho rằng, khó khăn lớn nhất hiện nay của nghề làm trống là quy mô sản xuất nhỏ, thiếu lao động trẻ và khả năng cạnh tranh hạn chế. Địa phương cũng rất trăn trở trong việc tìm giải pháp để khôi phục nghề, nhưng đây là bài toán không dễ khi thị trường tiêu thụ chưa ổn định.
Nếu nghề trống Vinh Phú đang loay hoay tìm lời giải cho bài toán truyền nghề thì câu chuyện nghề nồi đất Trù Sơn lại cho thấy một hướng đi khác. Có thời điểm, nghề nồi đất ở Trù Sơn từng đứng trước nguy cơ mai một.



Nhưng, khi nhu cầu sử dụng các sản phẩm truyền thống trong ẩm thực tăng lên, đặc biệt là các món ăn gắn với nồi đất như cá kho, cơm niêu, xôi..., sản phẩm nồi đất Trù Sơn bắt đầu có thị trường mới. Cùng với sự phát triển của mạng xã hội, hình ảnh người dân làm nồi được nhiều người biết đến hơn. Anh Lê Xuân Hải - chủ một cơ sở nồi đất Trù Sơn cho biết: Hiện nay, tuy nghề nồi đất không cho giá trị vật chất lớn nhưng chúng tôi cũng có được thu nhập khá ổn định, đơn cử như gia đình tôi đã có được nhiều mối đặt hàng ổn định, mỗi năm cho thu nhập hơn 150 triệu đồng.



.png)
Nghệ An hiện có khoảng 189 làng nghề và làng nghề truyền thống đang hoạt động, phân bố rộng khắp tại 130 xã, phường trong tỉnh. Các làng nghề này chuyên sản xuất đa dạng các mặt hàng, nổi tiếng với các nhóm sản phẩm chính đó là chế biến thực phẩm: Làng nghề tương Nam Đàn, làng nghề làm nước mắm, làng mật mía Khánh Quang, làng nghề bánh đa nem Diễn Ngọc, làng nghề bánh đa Đô Lương. Ở lĩnh vực thủ công mỹ nghệ có: Làng nghề mây, tre đan, dệt chiếu cói, làm nồi đất, và làng nghề dệt thổ cẩm ở các xã miền núi như Châu Tiến, Na Loi; hay các nghề dân gian khác như: Làng nghề sản xuất rượu men lá, làm hương, tăm và chế biến muối thủ công.





Thực tế cho thấy, các làng nghề hiện nay đang đứng trước một cuộc chuyển đổi lớn. Những giá trị truyền thống vẫn còn đó, nhưng phương thức sản xuất, tiêu thụ và truyền nghề không thể giữ nguyên như trước.
Ông Vương Hồng Thái - Chủ tịch UBND xã Vạn An cho biết: Chúng tôi có tới 3 làng nghề nhưng hiện chỉ có 1 làng nghề phát triển, đó là làng nghề sản xuất các sản phẩm từ sen. Còn lại các làng khác cũng chỉ duy trì được sản phẩm tương đối...
Câu chuyện của các làng nghề hiện nay đặt ra vấn đề các địa phương cần quan tâm hơn đến việc đào tạo lớp thợ kế cận, kết nối nghệ nhân với người trẻ, đưa nghề truyền thống vào các chương trình trải nghiệm văn hóa, du lịch cộng đồng. Đi cùng với đó cần hỗ trợ các làng nghề trong quảng bá sản phẩm, chuyển đổi số và mở rộng thị trường...