Kinh tế

Đánh thức giá trị 'đệ nhất chè xanh' xứ Nghệ

Thanh Phúc - Hoài Thu 10/08/2026 15:16

Danh tiếng của chè xanh Thống Nhất đã được khẳng định từ nhiều năm qua nhờ điều kiện thổ nhưỡng và cách canh tác đặc trưng trên những triền đồi sỏi đá. Song giá trị của cây chè vẫn chủ yếu dừng ở bán nguyên liệu tươi. Sự ra đời của Hợp tác xã Trồng chè xanh Lương Sơn đang mở ra kỳ vọng tổ chức lại sản xuất theo hướng sạch, nâng cao giá trị gia tăng và đưa đặc sản địa phương trở thành một thương hiệu nông sản có sức cạnh tranh.

Chè ngon trên vùng đất khó

chè 1
Những đồi chè xanh trải dài trên vùng đất sỏi đá ở xóm Thống Nhất, xã Lương Sơn. Ảnh: T.P

Con đường vào xóm Thống Nhất, xã Lương Sơn ngoằn ngoèo qua những quả đồi. Đi sâu vào phía trong, những đồi chè xanh dần hiện ra, phủ kín các triền dốc trên nền đất đỏ lẫn sỏi đá. Từ sáng sớm, người dân đã có mặt trên nương để cắt những cành chè xanh vừa đến lứa. Trên vùng đồi tưởng chỉ hợp với keo, sắn ấy, cây chè lại bén rễ, trở thành sinh kế của hơn 150 hộ dân và làm nên một thương hiệu được nhiều người sành uống ví như "đệ nhất chè xanh" của xứ Nghệ.

Xóm Thống Nhất được thành lập năm 1994 trên cơ sở Hợp tác xã Nông nghiệp Thống Nhất ra đời từ năm 1966. Những cư dân đầu tiên là người làng Đông Trung, xã Đông Sơn (Đô Lương cũ), di dân lên vùng đồi này từ năm 1965 để khai sơn lập địa. Trong hành trang mở đất năm ấy có cả những hạt chè xanh. Ban đầu, chè chỉ được trồng quanh nhà để nấu nước uống, nhưng nhờ hợp đất, hợp khí hậu, cây chè nhanh chóng phủ xanh các triền đồi và dần trở thành cây trồng chủ lực của cả xóm.

bna_1954.jpg
Cán bộ Hội Nông dân khảo sát vùng chè, nắm tình hình sản xuất của người dân xóm Thống Nhất. Ảnh: H.T

Đến nay, những đồi chè Thùng Giàng, Chọ Xốc, Hóc hay Động Tiến đã trở thành những vùng sản xuất chè nổi tiếng của Thống Nhất. Nhiều gia đình như bà Võ Thị Huyền, bà Nguyễn Thị Lý, bà Bùi Thị Hoa, bà Võ Thị Hồng... gắn bó với cây chè hàng chục năm, phát triển diện tích lên hàng nghìn mét vuông, thậm chí gần một héc-ta, tạo nên những vùng chè xanh bạt ngàn trên các sườn đồi.

Theo đồng chí Nguyễn Văn Vinh, Bí thư kiêm Xóm trưởng xóm Thống Nhất, điều làm nên sự khác biệt của chè nơi đây không nằm ở giống chè mà trước hết là điều kiện tự nhiên và kinh nghiệm canh tác được tích lũy qua nhiều thế hệ. Khác với nhiều vùng chè được trồng trong vườn hoặc trên đất thịt màu mỡ, chè Thống Nhất sinh trưởng trên những đồi cao, đất đỏ lẫn sỏi đá, hứng nắng trực tiếp suốt cả ngày. Điều kiện khắc nghiệt khiến cây phát triển chậm hơn nhưng lá nhỏ, dày, giòn và tích lũy hương vị đậm hơn.

bna_che.jpg
Chè xanh Thống Nhất với lá nhỏ, dày, xanh đậm, giòn. Ảnh: T.P

Người dân Thống Nhất còn lưu giữ một kinh nghiệm canh tác rất riêng. Sau mỗi mùa mưa, bà con vào rừng thu hái cây vọt, một loài cây họ dâu tằm mọc tự nhiên mang về tủ quanh gốc chè. Lớp phủ này vừa giữ ẩm trong mùa nắng, vừa phân hủy thành mùn, bổ sung nguồn hữu cơ tự nhiên cho đất. Nhờ vậy, cây chè sinh trưởng khỏe, ít sâu bệnh, hạn chế sử dụng phân bón hóa học nhưng vẫn giữ được chất lượng ổn định qua nhiều năm.

Có lẽ cũng bởi sự cộng hưởng giữa thổ nhưỡng, khí hậu và cách chăm sóc ấy mà chè Thống Nhất mang hương vị rất riêng. Theo ông Phạm Công Bưởi - Chi hội trưởng Chi hội Nông dân xóm Thống Nhất, cây chè nơi đây phát triển mạnh từ khoảng những năm 1985-1990. Qua quá trình chọn lọc tự nhiên, giống chè địa phương ngày càng bộc lộ những ưu điểm nổi trội. "Cành chè ngắn, lá dày, xanh đậm và giòn. Pha lên nước có màu vàng chanh chứ không xanh. Chè chát nhẹ đầu lưỡi nhưng hậu ngọt rất sâu. Đặc biệt, pha đến nước thứ ba vẫn giữ được màu và vị, trong khi nhiều loại chè khác chỉ sang nước thứ hai đã nhạt", ông Bưởi chia sẻ.

bna_1963.jpg
Chè xanh - cây trồng mang lại nguồn thu nhập ổn định cho gia đình chị Nguyễn Thị Tân. Ảnh: T.P

Từ một loại cây trồng để phục vụ nhu cầu trong gia đình, chè xanh hôm nay đã trở thành cây làm giàu của người dân Thống Nhất. Toàn xóm hiện có hơn 150 hộ trồng chè với diện tích khoảng 25 ha, doanh thu bình quân đạt trên 300 triệu đồng/ha/năm. Gia đình chị Nguyễn Thị Tân là một trong những hộ có diện tích chè lớn của xóm với 12 sào trên các triền đồi. Mỗi năm, vườn chè cho 4 lứa thu hoạch, mỗi lứa khoảng 1.000 bó, giá bán dao động từ 8.000-25.000 đồng/bó tùy thời điểm.

Theo chị Tân, cây chè không đòi hỏi nhiều chi phí đầu tư. Sau khoảng 2 năm trồng đã bắt đầu cho thu hoạch, những năm sau chỉ cần làm cỏ, tỉa cành và bổ sung phân hữu cơ định kỳ là có thể khai thác nhiều lứa trong năm. Bình quân mỗi sào chè mang lại thu nhập từ 15-20 triệu đồng, cao hơn nhiều loại cây trồng trên cùng chân đất, trong khi công chăm sóc ít hơn.

chè chát
Chè chát Thống Nhất - thức uống dân dã và đặc sản của vùng đồi Lương Sơn. Ảnh: T.P

Giá trị kinh tế ấy đã làm thay đổi diện mạo vùng đồi Thống Nhất. Những quả đồi trước đây chủ yếu trồng keo, sắn nay dần được phủ kín bởi màu xanh của chè thực phẩm. Tuy nhiên, phía sau danh tiếng của "đệ nhất chè xanh" vẫn còn một khoảng trống lớn. Phần lớn sản phẩm vẫn được bán dưới dạng chè tươi, phụ thuộc vào thương lái, chưa có nhãn hiệu, bao bì hay chuỗi tiêu thụ ổn định. Đó cũng là lý do người trồng chè nơi đây bắt đầu lựa chọn con đường liên kết, xây dựng hợp tác xã để đưa đặc sản quê hương bước sang một giai đoạn phát triển mới.

Cành chè Thống Nhất ngắn, lá dày, xanh đậm và giòn. Pha lên nước có màu vàng chanh chứ không xanh. Chè chát nhẹ đầu lưỡi nhưng hậu ngọt rất sâu. Đặc biệt, pha đến nước thứ ba vẫn giữ được màu và vị, trong khi nhiều loại chè khác chỉ sang nước thứ hai đã nhạt.

Ông Phạm Công Bưởi, Chi hội trưởng Chi hội Nông dân xóm Thống Nhất

Hành trình xây dựng thương hiệu

chè 1
Diện tích chè toàn xóm Thống Nhất hiện khoảng 20-25ha. Ảnh: T.P

Dù được thị trường đánh giá cao về chất lượng, sản phẩm vẫn chủ yếu bán dưới dạng chè tươi, phụ thuộc vào thương lái, chưa có bao bì, nhãn hiệu hay quy trình sản xuất thống nhất. Một vùng chè nổi tiếng bởi hương vị nhưng lại chưa được nhận diện bằng thương hiệu.

Từ thực tế đó, ngày 22/7/2026, Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Lương Sơn đã ra mắt Hợp tác xã Trồng chè xanh xã Lương Sơn, mô hình kinh tế tập thể do phụ nữ làm chủ và quản lý, với 16 thành viên là hội viên phụ nữ Chi hội Thống Nhất. Không đơn thuần là một tổ chức liên kết sản xuất, HTX được kỳ vọng trở thành "đầu tàu" xây dựng vùng nguyên liệu tập trung, chuẩn hóa quy trình canh tác, nâng cao chất lượng và từng bước đưa chè xanh Thống Nhất ra thị trường bằng chính tên tuổi của vùng đất.

Theo chị Trần Thị Thu - Chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc HTX Trồng chè xanh xã Lương Sơn, điều HTX hướng tới không chỉ là tạo đầu ra ổn định cho người trồng chè mà quan trọng hơn là giữ được hương vị đặc trưng đã làm nên danh tiếng của chè Thống Nhất.

Chúng tôi muốn các hộ cùng sản xuất theo một quy trình thống nhất, ưu tiên phân hữu cơ, hạn chế hóa chất, để mỗi bó chè khi đến tay người tiêu dùng đều giữ được chất lượng như nhau. Xa hơn là xây dựng thương hiệu để người tiêu dùng nhớ đến chè Thống Nhất bằng chính tên gọi của vùng đất.

Chị Trần Thị Thu - Chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc HTX Trồng chè xanh xã Lương Sơn

dsc07326.jpg
Trung bình mỗi sào chè mang lại thu nhập 15-20 triệu đồng. Ảnh: H.T

Theo định hướng phát triển, toàn bộ vùng nguyên liệu sẽ được canh tác theo hướng an toàn, tận dụng phân chuồng, phụ phẩm nông nghiệp và các chế phẩm sinh học để bón lại cho cây, hạn chế tối đa thuốc bảo vệ thực vật và chất kích thích sinh trưởng. Đây không chỉ là cách giữ gìn chất lượng vốn có của chè đồi mà còn là điều kiện để sản phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường hiện đại, nơi người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến yếu tố an toàn và truy xuất nguồn gốc.

1786263986926_2066765435447047739_4109823518494061724_3e903783a5a732e7cb0ca4378c8641d8.jpg
Hội LHPN tỉnh khảo sát vùng chè Thống Nhất, đồng hành cùng địa phương xây dựng HTX Trồng chè xanh xã Lương Sơn. Ảnh: T.P

Để biến một đặc sản nổi tiếng thành một thương hiệu có chỗ đứng trên thị trường vẫn còn không ít việc phải làm, từ chuẩn hóa vùng nguyên liệu, hoàn thiện quy trình sản xuất sạch, xây dựng nhãn hiệu đến mở rộng hệ thống phân phối. Nhưng với nền tảng là một vùng chè đã được gìn giữ qua nhiều thế hệ và hương vị đã được thị trường khẳng định, người trồng chè Thống Nhất có cơ sở để tin rằng "đệ nhất chè xanh" sẽ không chỉ là lời truyền tụng của người sành uống, mà sẽ trở thành một thương hiệu nông sản đặc trưng, mang giá trị kinh tế ngày càng cao cho vùng đất Lương Sơn.

HTX Trồng chè xanh xã Lương Sơn sẽ đầu tư khâu sơ chế, xử lý dập gân đến đóng gói hút chân không ngay sau thu hoạch, nhằm kéo dài thời gian bảo quản, giữ màu sắc và hương vị chè tươi. Đây được xem là bước quan trọng để sản phẩm có thể mở rộng thị trường thay vì chỉ tiêu thụ quanh vùng.

HTX cũng định hướng phát triển các sản phẩm chế biến như chè sấy lạnh, trà túi lọc, bột trà xanh, nước chè đóng chai; đồng thời xây dựng nhãn hiệu, bao bì, mã QR truy xuất nguồn gốc, quảng bá trên các nền tảng số và kết nối với cửa hàng nông sản sạch, siêu thị, điểm giới thiệu sản phẩm OCOP.

Mục tiêu là chuyển từ bán chè tươi sang bán sản phẩm có thương hiệu và giá trị gia tăng cao hơn.

Thanh Phúc - Hoài Thu