Diễn đàn

Lao động sáng tạo: Động lực tăng trưởng bền vững

TS. Nguyễn Quốc Việt và Nhóm Nghiên cứu Chính sách Kinh tế Vĩ mô, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội. • 14/08/2026 08:37

Nghị quyết số 57-NQ/TW ban hành ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá chiến lược quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, đổi mới phương thức quản trị quốc gia và đưa đất nước phát triển bứt phá, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

anh-trang-1b(1).png

TS. Nguyễn Quốc Việt và Nhóm Nghiên cứu Chính sách Kinh tế Vĩ mô, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội
************

Nghị quyết số 57-NQ/TW ban hành ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá chiến lược quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, đổi mới phương thức quản trị quốc gia và đưa đất nước phát triển bứt phá, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Điểm cốt lõi trong bước chuyển tư duy chiến lược này đã được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh tại Phiên họp Ban Chỉ đạo Trung ương thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW, diễn ra vào cuối tháng 7/2026, với yêu cầu: “Chuyển căn bản từ lao động giản đơn sang lao động sáng tạo, gắn với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quốc gia”.

“Ảo ảnh” tăng trưởng và “bẫy” lao động giản đơn

Để hiểu tại sao thực thi tốt Nghị quyết 57-NQ/TW thì phải xác định lao động sáng tạo là đột phá chiến lược quan trọng hàng đầu, chúng ta cần nhìn thẳng vào thực trạng vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu. Theo đó, nếu phân tích thương mại theo giá trị gia tăng (TiVA) thì những con số tăng trưởng xuất khẩu ấn tượng trong thập kỷ qua của Việt Nam phần nào chứa đựng một “ảo ảnh thống kê”.

Mặc dù Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia ASEAN có tỷ trọng xuất khẩu hàng công nghệ cao lớn (trên 30%), nhưng thực chất phần đóng góp nội địa (DVA) chủ yếu vẫn nằm ở khâu lắp ráp hạ nguồn - nơi tạo ra giá trị gia tăng thấp nhất. Tỷ trọng giá trị gia tăng nước ngoài (FVA) trong hàng xuất khẩu của Việt Nam ở mức rất cao, trung bình từ 45-50%. Nói cách khác, chúng ta đang nhập khẩu linh kiện cao cấp từ nước ngoài và sử dụng bàn tay khéo léo của công nhân ở các khâu giản đơn để đóng gói thành phẩm gắn mác “Make in Vietnam”.

Dây chuyền sản xuất của Công ty TNHH MTV Hoa Sen. Ảnh tư liệu minh họa: TH
Dây chuyền sản xuất của Công ty TNHH MTV Hoa Sen. Ảnh tư liệu minh họa: T.H

Việc tiếp tục dựa vào mô hình thâm dụng lao động giản đơn không chỉ khiến Việt Nam nguy cơ rơi vào “bẫy thu nhập trung bình” mà còn là “bẫy Ireland” - nơi GDP tăng trưởng nhưng thực lực quốc gia và thu nhập khả dụng của người dân không gia tăng tương ứng, do phần lớn lợi nhuận chảy về túi các chủ sở hữu tài sản trí tuệ và vốn nước ngoài. Đây chính là bối cảnh cấp thiết khiến Nghị quyết 57 ra đời nhằm tái định vị nguồn nhân lực, chuyển dịch trọng tâm từ “số lượng” sang “chất lượng”, lấy tri thức và khả năng sáng tạo làm thước đo năng suất mới.

Tiền đề cho cuộc cách mạng nhân lực sáng tạo

Nghị quyết 57 đánh dấu bước ngoặt trong tư duy quản trị quốc gia, không chỉ coi khoa học công nghệ là công cụ hỗ trợ mà xác định đó là động lực chính để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại. Trọng tâm của bước chuyển này chính là sự thay đổi bản chất của lao động Việt Nam.

Theo đó, khái niệm “lao động sáng tạo” không nên hiểu đơn giản là hình ảnh hẹp về các nhà khoa học trong phòng thí nghiệm, mà là rất đa dạng: Công nhân chuyển từ thao tác máy móc sang làm chủ dây chuyền tự động hóa và công nghệ bán dẫn; nông dân biết ứng dụng AI, dữ liệu và sinh học để tối ưu hóa giá trị trên mỗi tấc đất; doanh nhân dám chấp nhận rủi ro để đầu tư vào nghiên cứu và phát triển (R&D), tạo ra các sản phẩm công nghệ chiến lược thay vì chỉ kinh doanh thương mại ngắn hạn. Để thúc đẩy một hệ thống sản xuất kinh doanh sáng tạo thì đội ngũ cán bộ, công chức chuyển từ tư duy quản lý theo quy trình hành chính sang “tư duy kiến tạo phát triển”, sẵn sàng đồng hành cùng rủi ro của sự sáng tạo.

Chỉ khi có sự chuyển dịch căn bản trong đội ngũ nhân lực như vậy thì mới có thể hiện thực hóa mục tiêu của Nghị quyết 57 đưa năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) đóng góp trên 60% vào tăng trưởng kinh tế và đạt tốc độ tăng năng suất lao động xã hội khoảng 8,5%/năm trong vòng 5 năm tới đây và từ đó có thể đưa Việt Nam vươn tới mức thu nhập cao vào năm 2045 như mục tiêu Đại hội Đảng lần thứ XIV đặt ra.

Để giúp thủ thuật được thực hiện can thiệp tim mạch chính xác tuyệt đối trên cơ thể trẻ sơ sinh, các bác sĩ đã sử dụng hệ thống chụp mạch số hóa xóa nền (DSA) hiện đại. Ảnh: Hoàng Yến
Bác sĩ Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An sử dụng hệ thống chụp mạch số hóa xóa nền (DSA) thực hiện can thiệp tim mạch chính xác tuyệt đối trên cơ thể trẻ sơ sinh. Ảnh: Hoàng Yến

Trong bối cảnh hội nhập sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu, Nghị quyết 57 đã xác lập một danh mục các công nghệ chiến lược như chip bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ sinh học, công nghệ số và trung tâm dữ liệu, thiết bị bay và phương tiện tự hành. Đây là những lĩnh vực then chốt để Việt Nam không bị biến thành vùng trũng đáy chuỗi giá trị và đảm bảo dòng lợi nhuận từ đổi mới công nghệ được nội địa hóa.

Hiện nay, mặc dù chúng ta có những điểm sáng như Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) xếp hạng 44 thế giới và thu hút được các “đại bàng” công nghệ như Samsung, Intel hay Nvidia, nhưng mối liên kết giữa khối FDI và doanh nghiệp nội địa vẫn còn lỏng lẻo. Khối FDI vẫn hoạt động như một “ốc đảo khép kín” và sự cung ứng của doanh nghiệp thuần Việt chỉ dừng lại ở các khâu đơn giản như bao bì, in ấn.

Để phá vỡ thực trạng này, lao động sáng tạo sẽ đóng vai trò là cầu nối để tiếp nhận chuyển giao công nghệ cao. Trong chiến lược thực thi Nghị quyết 57, Việt Nam có kế hoạch đào tạo 50.000 kỹ sư bán dẫn và 20.000 nhân lực số chất lượng cao - đây sẽ là lực lượng lao động sáng tạo quan trọng để dẫn dắt nền công nghiệp hiện đại.

Tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế

Mọi sự chuyển đổi về nhân lực sáng tạo sẽ trở nên vô nghĩa nếu thiếu một môi trường thể chế tương thích. Thực tế, Việt Nam đang đối mặt với nghịch lý phân bổ nguồn lực đào tạo: Đầu tư cho đào tạo bậc phổ thông có xu hướng tăng, trong khi ngân sách cho giáo dục bậc cao (nhất là đại học) và nghiên cứu khoa học lại có xu hướng giảm. Điều này tạo ra nguy cơ “chảy máu chất xám” khi nhân tài trẻ được đào tạo bài bản và đánh giá quốc tế khá cao nhưng đại học và hệ thống dạy nghề của Việt Nam lại bị đánh giá thiếu năng lực cạnh tranh.

Bức tranh thực tế cũng cho thấy sự thiếu hụt hệ sinh thái R&D giữa nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp để các nhân lực chất lượng cao có thể cống hiến tối đa sự sáng tạo của mình cho sự phát triển của đất nước.

Cán bộ của bộ phận một cửa xã Giai Xuân hướng dẫn người dân thực hiện thủ tục đăng ký làm việc. Ảnh: Bông Mai
Cán bộ của bộ phận một cửa xã Giai Xuân hướng dẫn người dân thực hiện thủ tục đăng ký làm việc. Ảnh: Bông Mai

Một số giải pháp đột phá để giải quyết điểm nghẽn thể chế này cũng đã được triển khai theo sau Nghị quyết 57. Ví dụ như việc thể chế hóa Nghị quyết vào Luật Khoa học công nghệ và Đổi mới sáng tạo 2025, theo đó, lần đầu tiên thừa nhận công nghệ là tài sản dùng để góp vốn và chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu thông qua cơ chế khoán chi theo kết quả đầu ra; gay một số nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ đã thiết kế cơ chế Sandbox (Thử nghiệm có kiểm soát) nhằm xóa bỏ tư duy “không quản được thì cấm”, tạo không gian cho các mô hình kinh tế mới ứng dụng đổi mới sáng tạo như Fintech, tài sản số và AI được phép thử nghiệm và sai lầm.

Tuy nhiên, để thực sự tạo cú hích, có được nguồn nhân lực sáng tạo thì phải quyết liệt hơn ở khâu thực thi, mà trước hết là trong đào tạo nhân lực, với phương châm “Học thật, Dạy thật, Làm chủ công nghệ thật”. Chúng ta cũng đang đối mặt với nguy cơ “già trước khi giàu” khi “cửa sổ dân số vàng” dự kiến sẽ khép lại sau năm 2035. Sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ cũng gây áp lực lớn về việc đào tạo lại cho hàng triệu lao động đang làm các công việc giản đơn dễ bị thay thế bởi robot và AI. Vì vậy, chúng ta cần tập trung ngân sách Nhà nước và thu hút nguồn lực xã hội đào tạo nhân lực chất lượng cao trong các ngành STEM và công nghệ mũi nhọn; đặt doanh nghiệp vào trung tâm của hệ thống đào tạo. Cùng với đó, cơ chế trọng dụng tài năng cần phải thực chất, ví dụ xây dựng chính sách đãi ngộ đặc thù, tôn vinh và trao quyền cho các nhà khoa học, nhà sáng chế, kỹ sư công nghệ và lao động có sáng kiến cải tiến năng suất xuất sắc.

Việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết 57 hiện thực hóa chỉ đạo của Tổng Bí thư về việc chuyển từ lao động giản đơn sang lao động sáng tạo là yêu cầu tất yếu để xây dựng nền kinh tế phát triển nhanh trên nền tảng tự chủ và bền vững. Lựa chọn lao động sáng tạo làm nguồn lực trung tâm, kết hợp với bộ công cụ thể chế kiến tạo phát triển như các sandbox chính sách mới, quản trị dựa trên kết quả, thúc đẩy phát triển công nghệ chiến lược sẽ là “chìa khóa” quyết định giúp Việt Nam thoát “bẫy” thu nhập trung bình, nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu và kiến tạo sự thịnh vượng bền vững trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

TS. Nguyễn Quốc Việt và Nhóm Nghiên cứu Chính sách Kinh tế Vĩ mô, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội.