Kinh tế

Cần tập trung bảo đảm an toàn hồ chứa nước mùa mưa lũ 2026

Nguyễn Quang Hòa - Phó Chủ tịch Hội Thủy Lợi Nghệ An 20/08/2026 15:42

Nghệ An hiện có hơn 1.000 hồ chứa nước, phần lớn đã được khai thác nhiều thập kỷ, trong khi thời tiết ngày càng diễn biến cực đoan, khó lường. Trước mùa mưa lũ năm 2026, việc rà soát, nâng cao năng lực quản lý, vận hành và chủ động các phương án bảo đảm an toàn hồ đập là yêu cầu cấp thiết.

Nhiều hồ chứa đã khai thác hàng chục năm

Theo thống kê, Nghệ An hiện có 1.061 hồ chứa nước trên địa bàn toàn tỉnh. Trong đó, 84 hồ có dung tích ứng với mực nước lũ thiết kế từ 1 triệu m³ trở lên; 111 hồ có chiều cao đập trên 10m. Một số hồ có quy mô lớn như hồ Vực Mấu, với chiều cao đập khoảng 26m.

Đáng lưu ý, phần lớn các hồ chứa trên địa bàn tỉnh đã được đưa vào khai thác từ 50-70 năm. Nhiều công trình được thiết kế trong điều kiện tài liệu khí tượng, thủy văn còn hạn chế, quá trình thi công chủ yếu bằng phương pháp thủ công. Sau nhiều năm vận hành, không ít hồ được nâng cấp, sửa chữa trên nền công trình cũ, trong khi điều kiện thời tiết, khí hậu và yêu cầu sử dụng nước đã có nhiều thay đổi.

2.jpeg
Một tràn hồ chứa ở xã Văn Kiều đã vượt mức báo động 1. Ảnh: Văn Trường

Một vấn đề khác là trong lưu vực của một số hồ lớn, người dân còn xây dựng thêm các hồ chứa nhỏ. Trong khi đó, mức độ an toàn của nhiều công trình này trước nguy cơ lũ lớn còn hạn chế, tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến an toàn chung của cả lưu vực.

Công tác quản lý, khai thác hồ chứa cũng còn nhiều bất cập. Hiện chỉ có 116 hồ do các công ty khai thác công trình thủy lợi quản lý, trong khi 945 hồ còn lại do UBND cấp xã và các hợp tác xã quản lý. Đối với phương án phòng, chống bão lũ, hiện chỉ có 6 hồ chứa nước liên xã thuộc thẩm quyền phê duyệt của UBND tỉnh; các hồ còn lại trước đây do UBND cấp huyện phê duyệt và nay thuộc thẩm quyền của UBND cấp xã.

Trong khi đó, nguồn nhân lực chuyên môn phục vụ công tác quản lý nhà nước và quản lý, vận hành hồ chứa tại nhiều địa phương còn thiếu. Đây là vấn đề cần đặc biệt lưu ý, bởi chất lượng kiểm tra, đánh giá hiện trạng công trình là cơ sở quan trọng để xây dựng phương án phòng, chống thiên tai và bảo đảm an toàn hồ đập.

Biến đổi khí hậu làm gia tăng nguy cơ

Những bất cập nêu trên càng trở nên đáng quan tâm trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang làm thời tiết diễn biến ngày càng cực đoan, khó dự báo. Mưa lớn có thể xuất hiện với cường độ cao trong thời gian ngắn, làm lượng nước đổ về hồ tăng nhanh, gây áp lực lớn lên các công trình đầu mối và hệ thống tiêu thoát lũ.

Với đặc điểm phần lớn hồ chứa đã vận hành nhiều thập kỷ, việc chủ động kiểm tra, đánh giá an toàn công trình trước mùa mưa lũ là yêu cầu cấp thiết. Cùng với đó, cần tăng cường tập huấn chuyên môn, nâng cao năng lực cho đội ngũ quản lý, vận hành hồ chứa và tổ chức diễn tập các phương án ứng phó sự cố, phòng chống lũ, bảo đảm an toàn đập.

Đây không chỉ là yêu cầu đối với các hồ chứa lớn mà cần được thực hiện đồng bộ đối với toàn bộ hệ thống hồ chứa trên địa bàn tỉnh, nhất là những công trình nằm phía thượng lưu các khu dân cư, đô thị và vùng sản xuất tập trung.

1.jpeg
Hồ Vực Mấu điều tiết nước. Ảnh tư liệu

Bên cạnh việc bảo đảm an toàn hồ chứa, tình trạng ngập lụt tại các đô thị và khu dân cư tập trung ở vùng hạ lưu các lưu vực sông cũng cần được đánh giá một cách toàn diện. Thực tế cho thấy, ngập lụt là kết quả của nhiều nguyên nhân đan xen, trong đó có cả yếu tố tự nhiên và tác động từ quá trình phát triển kinh tế - xã hội.

Thứ nhất, biến đổi khí hậu làm gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan, khiến cường độ và lượng mưa trong mùa mưa có thể tăng đột biến. Trong khi đó, năng lực tiêu thoát của nhiều công trình hạ tầng được xây dựng từ trước có thể không còn đáp ứng được yêu cầu thực tế.

Thứ hai, quá trình đô thị hóa và việc san lấp ao, hồ tự nhiên làm suy giảm không gian trữ nước. Việc xây dựng tại các khu vực vốn có chức năng chậm lũ cũng có thể cản trở dòng chảy và khả năng tiêu thoát nước khi xảy ra mưa lớn.

Thứ ba, việc phát triển thủy điện nhỏ tại một số khu vực có thể tác động đến rừng và thảm thực vật. Khi độ che phủ rừng suy giảm, khả năng giữ nước của lưu vực giảm, dòng chảy mặt tăng và tốc độ truyền lũ trên sông, suối có thể nhanh hơn.

Thứ tư, nước biển dâng và tác động của biến đổi khí hậu có thể làm gia tăng khó khăn trong việc tiêu thoát lũ tại các khu vực cửa sông, nhất là khi mưa lớn trùng với thời điểm triều cao.

Thứ năm, công tác vận hành hồ chứa, đặc biệt là việc chủ động duy trì dung tích phòng lũ, cần được thực hiện chặt chẽ theo quy trình. Trong một số tình huống, nếu hồ không được đưa về mực nước phù hợp trước khi xuất hiện mưa lớn, việc xả lũ cấp tập để bảo đảm an toàn công trình có thể làm gia tăng áp lực đối với vùng hạ du.

Thứ sáu, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ thực hiện chức năng quản lý nhà nước và quản lý, vận hành hồ chứa tại một số địa phương còn hạn chế. Đây là điểm nghẽn cần được khắc phục, bởi an toàn hồ đập phụ thuộc rất lớn vào năng lực dự báo, kiểm tra, vận hành và xử lý tình huống của con người.

Chủ động từ sớm, không để bị động khi có lũ

Để bảo đảm an toàn hồ chứa trong mùa mưa lũ năm 2026, cần có sự chuyển biến mạnh mẽ cả về nhận thức và hành động của các cấp, ngành, địa phương và đơn vị quản lý công trình.

Trước hết, cần rà soát, đánh giá toàn diện hiện trạng an toàn của hệ thống hồ chứa, nhất là những công trình đã vận hành lâu năm và các hồ nằm ở khu vực có nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến khu dân cư phía hạ du. Những công trình có nguy cơ mất an toàn phải được xác định rõ mức độ rủi ro và có phương án xử lý phù hợp.

Cùng với đó, cần nâng cao chất lượng công tác dự báo, quan trắc và vận hành hồ chứa; rà soát, cập nhật các phương án phòng, chống thiên tai, phương án ứng phó tình huống khẩn cấp. Công tác tập huấn, diễn tập cần được tổ chức thực chất, sát với các tình huống có thể xảy ra, tránh hình thức.

Về lâu dài, cần hoàn thiện các quy định, cơ chế quản lý hồ chứa phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương hiện nay; đồng thời củng cố đội ngũ cán bộ có chuyên môn tại các cấp và đơn vị trực tiếp quản lý, vận hành công trình.

Đối với khu vực hạ du, cần kiểm soát chặt chẽ việc san lấp ao, hồ, xây dựng tại các vùng có chức năng thoát lũ, chậm lũ; rà soát năng lực tiêu thoát nước của các đô thị và khu dân cư. Đồng thời, cần quản lý chặt chẽ việc sử dụng đất, bảo vệ rừng và thảm thực vật tại các lưu vực sông, suối nhằm hạn chế nguy cơ gia tăng dòng chảy lũ.

Bảo đảm an toàn hồ chứa không chỉ là nhiệm vụ của riêng ngành Thủy lợi mà đòi hỏi sự phối hợp của nhiều cấp, nhiều ngành. Quan trọng hơn, cần chuyển từ tư duy ứng phó sang chủ động phòng ngừa, từ đó giảm thiểu nguy cơ sự cố hồ đập và hạn chế thiệt hại cho người dân, tài sản ở vùng hạ du khi mùa mưa lũ đến.

Nguyễn Quang Hòa - Phó Chủ tịch Hội Thủy Lợi Nghệ An