Người họa sĩ xa xứ gửi tình quê qua từng nét vẽ
Là người con Quảng Bình nhưng lớn lên, học tập và trưởng thành trên mảnh đất xứ Nghệ, với họa sĩ Nguyễn Đức Hùng (SN 1962), Nghệ An không chỉ là nơi chở che gia đình ông giữa những năm tháng chiến tranh, mà đã trở thành một phần máu thịt trong ký ức và tâm hồn ông. Bởi vậy, dù sinh sống và làm việc tại Ba Lan, tình yêu quê hương trong ông chưa bao giờ vơi cạn. Những năm tháng tuổi thơ, những con đường, cánh đồng, mùa hoa và điệu ví, giặm…

Thanh Quỳnh / Trình bày: Hồng Toại • 2/9/2026
*****
Là người con Quảng Bình nhưng lớn lên, học tập và trưởng thành trên mảnh đất xứ Nghệ, với họa sĩ Nguyễn Đức Hùng (SN 1962), Nghệ An không chỉ là nơi chở che gia đình ông giữa những năm tháng chiến tranh, mà đã trở thành một phần máu thịt trong ký ức và tâm hồn ông. Bởi vậy, dù sinh sống và làm việc tại Ba Lan, tình yêu quê hương trong ông chưa bao giờ vơi cạn. Những năm tháng tuổi thơ, những con đường, cánh đồng, mùa hoa và điệu ví, giặm… đã theo ông trong hành trình hơn 40 năm xa quê. Tất cả được gửi gắm qua từng nét vẽ, để những miền ký ức về quê nhà dù cách xa hàng nghìn cây số vẫn hiện diện gần gũi, thân thương.

Giữa thành phố Pruszków của đất nước Ba Lan, có một phòng tranh đặc biệt, nơi họa sĩ Nguyễn Đức Hùng lặng lẽ gìn giữ tình yêu quê hương qua từng nét vẽ trong suốt nhiều năm qua.
Ở đó có núi, có sông, có những mái tranh bình dị, cánh đồng thân thuộc, những mùa hoa và vầng trăng quê nhà. Một Việt Nam gần gũi, thân thương hiện lên trong từng bức họa, trong đó đậm sâu là hình bóng miền quê xứ Nghệ.

Những ký ức về Nghệ An, về mảnh đất Thành Vinh cũ bắt đầu trong ông từ những năm tháng rất sớm của cuộc đời. Ông sinh năm 1962 ở Quảng Bình. Lên 6 tuổi, mẹ mất, cha ông một mình gồng gánh nuôi các con trong cảnh khó khăn. Cha ông là thương binh nặng thời kháng chiến chống Pháp. Trong chiến tranh, ông từng có một người đồng đội rất thân thiết ở Nghệ An. Họ cùng nhau vào sinh ra tử giữa chiến trường. Trong một lần cố gắng cõng người bạn bị thương về nơi an toàn, cha ông giẫm phải mìn của địch và vĩnh viễn mất đi một bên chân.
Ân tình giữa những người lính từng cùng nhau đi qua sinh tử ấy không mất đi theo chiến tranh. Biết hoàn cảnh gia đình người đồng đội ngày càng khó khăn, một mình phải bươn chải nuôi các con nhỏ sau khi vợ mất, người bạn ở Nghệ An đã khuyên cha ông đưa gia đình ra thành phố Vinh. Ở đó, vẫn còn những người quen biết, vẫn còn những vòng tay có thể sẻ chia, đùm bọc.
Và rồi gia đình Nguyễn Đức Hùng theo cha về Vinh khi ông lên 8 tuổi. Một vùng đất mới từ đó trở thành quê hương thứ hai, gắn với tuổi thơ và những ký ức không thể phai mờ trong ông.

Nhưng những ngày đầu trên mảnh đất ấy vẫn in đậm dấu vết chiến tranh. Ông còn nhớ những trận bom đạn và những lần người dân làng xóm phải vào ngủ trong những căn hầm dưới núi Quyết để tránh bom. Ông nhớ cả những trận máy bay Mỹ oanh tạc cầu Bến Thủy.
Giữa những năm tháng gian khó ấy, tình làng nghĩa xóm đã trở thành một phần sâu đậm trong tâm hồn ông. Những người hàng xóm quanh ngôi nhà ở phường Trung Đô, thành phố Vinh (nay là phường Trường Vinh) cũng chẳng dư dả gì, nhưng luôn dành cho bố con ông sự quan tâm, sẻ chia chân tình. Nhà có rổ rau thì mang cho rổ rau, có củ sắn thì gửi củ sắn; khi gia đình có việc, bà con lại cùng nhau giúp đỡ. Những món quà quê nhỏ bé, những sự giúp đỡ chẳng ồn ào ấy đã tiếp thêm hơi ấm cho cuộc sống vốn nhiều thiếu thốn của gia đình ông.
Cha ông vốn tự trọng, không muốn nhận quà của mọi người, nhưng trước tấm lòng chân thành của bà con, ông vẫn không khỏi xúc động. Chính từ những điều bình dị ấy, cậu bé Nguyễn Đức Hùng đã sớm cảm nhận được nghĩa tình của người Vinh và mang theo tình cảm ấy suốt những năm tháng về sau.


Tình cảm ấy tiếp tục được bồi đắp trong những năm tháng ông học tập tại Vinh. Ông học cấp 2 tại Trường Trung học cơ sở Trung Đô, sau đó vào học tại Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng. Mái trường, thầy cô và bạn bè đã trở thành niềm vui lớn trong tuổi thơ của cậu bé ấy, nơi ông luôn nhận được sự yêu thương, giúp đỡ và chở che. Năm 1980, Nguyễn Đức Hùng thi đỗ Đại học Bách khoa Hà Nội với số điểm cao, đủ điều kiện được sang Ba Lan học Toán tại Đại học Tổng hợp Warszawa.
Đến nơi đất khách, những người bạn ở quê nhà vẫn không quên ông. Những lá thư từ Vinh gửi sang, những lời hỏi thăm, động viên giúp người thanh niên xa quê vơi bớt nỗi lo. Mỗi dịp lễ, Tết, họ lại ghé thăm cha ông, như một cách thay ông chăm nom người cha ở quê nhà. Những tình cảm giản dị ấy khiến ông luôn cảm thấy mình không hề đơn độc, dù đã cách quê hương hàng nghìn cây số.




Chính bởi vậy, mỗi khi nhắc về Nghệ An, Nguyễn Đức Hùng không chỉ nhớ cảnh sắc mà điều đọng lại sâu đậm nhất trong ông vẫn là tình người. Đó là những người thầy, người bạn, những người hàng xóm nghèo mà nặng nghĩa tình; là rổ rau, củ sắn của những ngày gian khó, là căn nhà ông đã cố gắng sửa lại trước lúc lên đường. Những điều bình dị ấy đã khiến Nghệ An, từ nơi gia đình ông tìm đến giữa những năm tháng chiến tranh, dần trở thành một phần máu thịt trong tâm hồn ông.
Và có lẽ, chính từ miền ký ức ấy, những bức tranh quê hương của Nguyễn Đức Hùng đã ra đời...

Hội họa đến với Nguyễn Đức Hùng từ rất sớm. Từ nhỏ, ông đã thích vẽ, từng say mê làm báo tường cho lớp. Nhưng hoàn cảnh gia đình và con đường học tập lúc ấy không cho phép niềm yêu thích ấy được theo đuổi trọn vẹn. Khi theo học ngành Toán tại Đại học Tổng hợp Warszawa, hội họa vẫn âm thầm ở lại trong ông, như một niềm say mê chưa bao giờ mất đi.
Cho đến một lần, khi đi xem triển lãm của một nữ họa sĩ Ba Lan, cảm xúc tưởng đã ngủ quên bỗng trở lại. Ông bắt đầu cầm bút vẽ.
Những ngày đầu nơi đất khách, để có được một bức tranh không phải chuyện dễ dàng. Ông chưa thông thạo ngôn ngữ, việc liên lạc còn khó khăn, dụng cụ vẽ cũng thiếu thốn. Nhưng niềm say mê khiến ông tìm cách tận dụng tất cả những gì có thể. Một đôi đũa được đập tòe ra làm bút; kem đánh răng làm màu trắng; giấy đốt, vò vụn làm màu đen; lá cây bóp vụn làm màu xanh; mực Cửu Long pha loãng làm màu trời. Từ những thứ rất đỗi giản dị ấy, những bức tranh đầu tiên của ông ra đời.

Rồi việc vẽ dần đi vào nền nếp. Ông mua màu, mua bút, mua khung, tranh thủ thời gian tìm tòi, học hỏi về hội họa bên cạnh việc học Toán. Mỗi ngày đi học về, ông lại không khỏi tò mò trước cánh cửa lớn của Trường Đại học Mỹ thuật Warszawa.
Một ngày, ông đánh bạo bước vào trường, tìm gặp trưởng khoa và xin được học hội họa. Những bức tranh mang theo khiến vị trưởng khoa có thiện cảm. Sau đó, ông được nhà trường tạo điều kiện học dự thính, được sử dụng thư viện, phòng vẽ và tiếp cận những kiến thức bài bản về hội họa, từ kỹ thuật vẽ, màu sắc, lịch sử nghệ thuật đến giải phẫu người. Quan trọng hơn, ông có thêm một không gian để nuôi dưỡng niềm đam mê mà mình đã mang theo từ quê nhà.

Dần dần, tranh của Nguyễn Đức Hùng xuất hiện trong các hoạt động văn hóa, nghệ thuật do Đại sứ quán Việt Nam tại Ba Lan tổ chức đặc biệt trong thời gian đang là sinh viên. Sau khi tốt nghiệp, ông làm việc tại Ba Lan trong một lĩnh vực không liên quan đến hội họa. Nhưng cây cọ vẫn không rời ông, lặng lẽ đồng hành như một phần tự nhiên và không thể thiếu của cuộc sống.
Đến nay, ông đã có hàng trăm bức tranh và tham gia nhiều cuộc triển lãm. Trong đó, đáng chú ý là triển lãm “Việt Nam trong trái tim tôi” tại Trung tâm thương mại Marywilska 44 ở Warszawa, nhân dịp Quốc khánh Việt Nam 2/9/2023.



Nhưng có lẽ, quê hương vẫn là mạch nguồn sâu đậm nhất trong tranh Nguyễn Đức Hùng. Những tác phẩm như Nỗi nhớ miền quê, Rơm thơm hồn quê, Hoa thiên, Trăng quê... đưa người xem trở về với những cảnh sắc thân thuộc: Mùa hoa phượng đỏ, những trưa Hè râm ran tiếng ve, cánh đồng lúa, dãy núi phía xa, tiếng sóng biển và cả điệu ví, giặm quê nhà.
Bốn mươi năm xa quê, sống ở nơi đất khách quê người, ông có một gia đình hạnh phúc bên người vợ Ba Lan và những người con. Cuộc sống nơi xứ người đã cho ông một mái ấm, một hành trình riêng, nhưng quê hương vẫn là mạch nguồn sâu đậm không bao giờ vơi cạn.
Từ Ba Lan, ông lặng lẽ gửi những mảnh ký ức ấy trở về Việt Nam bằng màu sắc. Sắp tới, ông dự định tổ chức triển lãm tại Ba Lan và Việt Nam, để những miền quê trong ký ức được gặp gỡ nhiều hơn với người xem, và để nỗi nhớ của một người xa xứ trở về với quê nhà theo một cách riêng...