Sôi nổi phong trào sản xuất, kinh doanh giỏi ở Nghệ An
Qua 5 năm, phong trào nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi ở nhiều địa phương không chỉ tăng về số hộ tham gia mà còn cho thấy sự thay đổi trong cách làm kinh tế: Mạnh dạn mở rộng quy mô, đa dạng ngành nghề, khai thác lợi thế địa phương và từng bước chú trọng hơn đến thị trường.
Đa dạng cách làm, tăng hiệu quả

Ở xã An Châu, phong trào nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi những năm qua không chỉ mở rộng về số lượng hộ tham gia mà còn cho thấy sự thay đổi khá rõ trong cách làm kinh tế. Từ sản xuất nông nghiệp, nhiều hộ đã mạnh dạn đầu tư nuôi trồng thủy sản, chế biến thực phẩm, kinh doanh, dịch vụ và các ngành nghề khác, hình thành những mô hình có quy mô và thu nhập đáng kể.
Giai đoạn 2020-2025, mỗi năm xã An Châu có khoảng 2.485 hộ đăng ký danh hiệu nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi; toàn giai đoạn có 2.280 hộ đạt danh hiệu các cấp, trong đó 8 hộ cấp Trung ương, 285 hộ cấp tỉnh và 1.987 hộ cấp xã. Đằng sau những con số ấy là sự chuyển động từ những mô hình sản xuất nhỏ lẻ sang cách làm chú trọng hơn đến vốn, thị trường, quy mô và hiệu quả kinh tế.

Ở An Châu, sự đa dạng của phong trào thể hiện khá rõ qua những mô hình cụ thể. Mô hình nuôi tôm công nghệ cao của anh Nguyễn Cường ở xóm Trung Đình cho thu nhập trên 5 tỷ đồng/năm; gia đình chị Cao Thị Nhi ở xóm Trung Song kinh doanh hải sản, thu nhập 6 tỷ đồng/năm, giải quyết việc làm thường xuyên cho 30 lao động. Cùng với đó là các mô hình kinh doanh hàng tạp hóa kết hợp nuôi trồng thủy sản, sản xuất bê tông nhựa, giò bê, trồng sen, làm nhôm kính, inox…
Điểm đáng chú ý là một số hộ không còn bó hẹp trong một khâu sản xuất mà chủ động mở rộng sang kinh doanh, dịch vụ hoặc liên kết với doanh nghiệp, hình thành vùng sản xuất, chăn nuôi và gắn các khâu sản xuất, chế biến, tiêu thụ. Cách làm này cho thấy phong trào đang chuyển dần từ việc tạo ra một sản phẩm sang tổ chức hoạt động kinh tế theo hướng tính toán đầu vào, đầu ra và giá trị thu được.
Phong trào sản xuất, kinh doanh giỏi tại xã Bạch Hà lại cho thấy sự chuyển dịch theo một cách khác. Từ một địa bàn sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, phong trào đã thúc đẩy nhiều hộ đầu tư vào trang trại, gia trại, kinh tế tổng hợp và ngành nghề. Đến năm 2025, địa phương có 4 hợp tác xã nông nghiệp, 15 trang trại, gia trại cùng các mô hình sản xuất đa dạng. Bên cạnh nuôi lươn không bùn, nuôi ếch, gà, lợn, vịt thương phẩm, trồng chuối Nam Mỹ, sản xuất nồi đất bằng máy…, phong trào còn lan sang các lĩnh vực vận tải, cơ khí, hàn xì, xăng dầu, kinh doanh tạp hóa, nhà hàng.

Giai đoạn 2020-2025, Bạch Hà có 3.527 hộ đăng ký danh hiệu sản xuất, kinh doanh giỏi mỗi năm; 2.003 hộ đạt danh hiệu cấp xã và 4 hộ đạt cấp tỉnh. Hội tổ chức 78 lớp tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật cho gần 10.000 lượt hội viên, 16 lớp đào tạo nghề cho 710 lao động. Cùng với vốn tín dụng, tập huấn và chuyển giao kỹ thuật, những hoạt động này tạo thêm điều kiện để nông dân thay đổi phương thức sản xuất.
Từ thực tế ở các địa phương có thể thấy, danh hiệu “sản xuất, kinh doanh giỏi” ngày càng gắn với năng lực tổ chức sản xuất và khả năng tạo giá trị. Hộ nông dân không chỉ làm ra sản phẩm mà đã quan tâm hơn đến giống, kỹ thuật, quy mô, thương hiệu, thị trường và nguồn vốn.
Miền núi chọn hướng đi từ lợi thế

Nếu ở các xã đồng bằng, sự năng động của phong trào thể hiện khá rõ qua việc mở rộng ngành nghề và quy mô kinh doanh, thì tại các xã miền núi, nét riêng lại nằm ở cách nông dân khai thác những lợi thế sẵn có để tạo sinh kế. Đó có thể là đất đai, khí hậu, cây trồng, vật nuôi đặc trưng hoặc cảnh quan, văn hóa bản địa. Từ những lợi thế ấy, nhiều hộ từng bước hình thành mô hình sản xuất phù hợp, rồi mở rộng sang chế biến, dịch vụ và du lịch.
Ở Môn Sơn, điều này thể hiện khá rõ trong phong trào nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi giai đoạn 2020-2025. Mỗi năm có trên 2.485 hộ đăng ký danh hiệu; toàn giai đoạn có 5.675 lượt hộ đạt danh hiệu các cấp, trong đó 17 lượt hộ cấp Trung ương, 115 lượt hộ cấp tỉnh và 5.546 lượt hộ cấp xã. Các mô hình được lựa chọn không đơn thuần chạy theo những cây, con có giá trị cao mà khá sát với điều kiện sản xuất của vùng: Nuôi ong, nuôi cá Bọp, trồng na, hồng xiêm, nuôi dúi, nấu rượu men lá, sử dụng phân vi sinh cho cây lúa nước… Qua đó, phong trào góp phần mở thêm những hướng sinh kế từ chính nguồn lực tại chỗ.

Điển hình như hộ ông Nguyễn Tất Đàn ở bản Thái Sơn chăn nuôi lợn, thu nhập gần 2 tỷ đồng/năm; gia đình ông Vi Văn Thủy và ông Trần Đình Ngọc ở bản Xiềng phát triển homestay, thu nhập khoảng 2,5 tỷ đồng/năm, giải quyết việc làm thường xuyên cho 15 lao động; các mô hình nuôi dúi của anh Lộc Văn Chung và anh Lô Văn Thảo đạt 700-850 triệu đồng/năm.
Tại xã Tương Dương, hướng đi này thể hiện rõ hơn ở việc lựa chọn những sản phẩm có khả năng hình thành vùng sản xuất và gắn với đầu ra. Giai đoạn 2020-2025, địa phương phát triển vùng chuối lấy lá trên 100 ha gắn với bao tiêu sản phẩm; cà chua múi 2 ha, cà ngọt Khe Ngậu 32 ha, sắn cao sản 200 ha, khoai tây thương phẩm 5 ha cùng các mô hình bí xanh, rau sạch.
Trong chăn nuôi, các hộ phát triển bò, trâu vỗ béo, gà đen, lợn đen, dê, dúi… Một số hộ kết hợp nhiều hoạt động thay vì phụ thuộc vào một sản phẩm duy nhất. Hộ anh La Văn Phú ở bản Lau nuôi hơn 5.000 con gà, kết hợp trồng rau sạch, thu nhập hơn 300 triệu đồng/năm. Chị Vi Thị Giang ở bản Phòng kết hợp chăn nuôi bò, trồng dưa hấu, rau sạch nhà lưới với kinh doanh nhà hàng; hộ chị Vi Thị Thủy kết hợp gần 0,5 ha rau màu với chăn nuôi bò, lợn; mô hình nuôi dê kết hợp trồng chuối lấy lá của anh Mạc Thanh Long cho thu nhập 200-250 triệu đồng/năm.

Đáng chú ý, ở xã Tương Dương, nông dân đã đưa các sản phẩm từ lợi thế địa phương vào chương trình OCOP và liên kết tiêu thụ. Trong giai đoạn 2020-2025, địa phương xây dựng 7 sản phẩm OCOP gồm cà chua múi, cà ngọt, bò giàng, lạp xưởng, rượu nếp cẩm, ớt hiểm muối và bí xanh. Các hợp tác xã, tổ hợp tác từng bước ký kết liên kết sản xuất, bao tiêu khoai tây, chuối lấy lá, rau sạch, cà chua múi và một số sản phẩm khác. Như vậy, từ chỗ khai thác sản vật sẵn có, một số địa phương miền núi đã bắt đầu quan tâm đến câu chuyện rộng hơn: Sản xuất cái gì, tổ chức thành sản phẩm ra sao và bán ở đâu.
Theo bà Lương Vân Anh - Chủ tịch Hội Nông dân xã Tương Dương: “Phong trào thời gian qua đã giúp nhiều hội viên thay đổi cách nghĩ trong tổ chức sản xuất. Điều quan trọng là lựa chọn được cây, con và sản phẩm phù hợp với điều kiện của địa phương, nhưng để mô hình phát triển ổn định thì không thể chỉ dừng ở sản xuất. Thời gian tới, Hội sẽ chú trọng hỗ trợ hội viên tiếp cận khoa học kỹ thuật, vốn, xây dựng sản phẩm, kết nối tiêu thụ và từng bước ứng dụng công nghệ trong sản xuất, kinh doanh. Những mô hình làm tốt sẽ được lựa chọn để tuyên truyền, giới thiệu và nhân rộng”.
Hướng đến mô hình bền vững

Những kết quả từ cơ sở cũng cho thấy phong trào vẫn còn những khoảng trống cần khắc phục. Phần lớn hộ có quy mô sản xuất còn nhỏ, khả năng tích lũy và đầu tư hạn chế. Liên kết sản xuất - tiêu thụ ở một số nơi chưa chặt chẽ, một số sản phẩm còn phụ thuộc vào thị trường tự phát, đầu ra thiếu ổn định. Trong khi đó, ứng dụng công nghệ, thương mại điện tử và chuyển đổi số ở nhiều hộ còn hạn chế, khiến khả năng quảng bá, xây dựng thương hiệu và tiếp cận thị trường mới chưa tương xứng với tiềm năng.
Vì vậy, yêu cầu đặt ra trong giai đoạn tới không chỉ là tăng số hộ đạt danh hiệu sản xuất, kinh doanh giỏi, mà quan trọng hơn là hình thành những mô hình có khả năng đứng vững và nhân rộng. Muốn vậy, hỗ trợ nông dân cần đi sâu hơn vào những khâu đang hạn chế: Vốn và khoa học kỹ thuật để nâng năng lực sản xuất; đào tạo nghề, kỹ năng kinh doanh để hộ dân chủ động hơn; liên kết với hợp tác xã, doanh nghiệp để ổn định đầu ra; xây dựng thương hiệu, ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số để mở rộng thị trường.
“Trong giai đoạn mới, phong trào cần chuyển từ việc có nhiều hộ sản xuất, kinh doanh giỏi sang xây dựng những mô hình kinh tế thực sự hiệu quả, có liên kết, có đầu ra và có khả năng nhân rộng. Đây cũng là hướng để phong trào đi vào chiều sâu, tạo giá trị bền vững hơn cho nông dân".
Ông Nguyễn Viết Hùng - Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh Nghệ An