Xuất khẩu lao động Hàn Quốc: Khi chi phí thấp không còn đủ sức hút
Từng là thị trường xuất khẩu lao động hấp dẫn của Nghệ An, Hàn Quốc đang có sự phân hóa rõ nét. Lao động phổ thông với thu nhập khoảng 25 - 30 triệu đồng/tháng khó còn sức hút, trong khi các hợp đồng dành cho lao động có tay nghề, thu nhập 45 - 80 triệu đồng/tháng vẫn được quan tâm. Sự dịch chuyển này đang đặt ra những điểm nghẽn mới đối với Chương trình EPS.
Nội dung: Thanh Nga / Trình bày: Hồng Toại • 16/9/2026
*****
Từng là thị trường xuất khẩu lao động hấp dẫn của Nghệ An, Hàn Quốc đang có sự phân hóa rõ nét. Lao động phổ thông với thu nhập khoảng 25 - 30 triệu đồng/tháng khó còn sức hút, trong khi các hợp đồng dành cho lao động có tay nghề, thu nhập 45 - 80 triệu đồng/tháng vẫn được quan tâm. Sự dịch chuyển này đang đặt ra những điểm nghẽn mới đối với Chương trình EPS.
.png)
Nhiều năm trước, mỗi khi thông tin Hàn Quốc tuyển lao động theo Chương trình EPS được công bố, người lao động Nghệ An đã nhanh chóng tìm cách tiếp cận. Sức hút của thị trường này đến từ chi phí tham gia thấp, chủ yếu gồm 100 triệu đồng tiền ký quỹ cùng các khoản chi cho vé máy bay, học tiếng và giáo dục định hướng, trong khi thu nhập tại Hàn Quốc cao hơn đáng kể so với nhiều công việc phổ thông trong nước.
Tuy nhiên, những lợi thế từng tạo nên sức hút của Chương trình EPS đang dần suy giảm, khiến chương trình không còn hấp dẫn như trước đối với lao động Nghệ An.

Theo thông tin từ Trung tâm Lao động ngoài nước, năm 2026, chỉ tiêu tiếp nhận lao động nước ngoài theo diện EPS của Hàn Quốc là 80.000 người, giảm 38,5% so với mức 130.000 người của năm 2025. Trong tổng số này, sản xuất chế tạo và đóng tàu chiếm 50.000 chỉ tiêu, nông nghiệp 10.000, ngư nghiệp 2.000, xây dựng 7.000, dịch vụ 1.000 và 10.000 chỉ tiêu dự phòng được phân bổ linh hoạt. Phía Hàn Quốc lý giải việc giảm hạn ngạch do nhu cầu bổ sung lao động nước ngoài sau đại dịch cơ bản đã được đáp ứng. Trong khi đó, số lượng vị trí việc làm còn trống tại một số ngành, đặc biệt là sản xuất chế tạo và xây dựng, cũng giảm đáng kể.
Như vậy, khó khăn trong thu hút lao động năm nay không chỉ xuất phát từ phía người lao động mà còn đến từ sự thu hẹp nguồn cung việc làm tại thị trường Hàn Quốc. Đây là một trong những điểm nghẽn của Chương trình EPS. Khi tổng hạn ngạch giảm, cơ hội dành cho lao động nước ngoài cũng thu hẹp, trong khi cơ cấu ngành nghề tuyển dụng có nhiều thay đổi. Những ngành từng có nhu cầu lớn không còn duy trì quy mô như trước; còn nông nghiệp, ngư nghiệp với đặc thù công việc nặng nhọc, phụ thuộc thời tiết và điều kiện sinh hoạt, địa điểm làm việc không thuận lợi, khó trở thành lựa chọn ưu tiên của lao động trẻ.

Tại Nghệ An, đến thời điểm chốt danh sách, chỉ có 158 lao động đăng ký đi Hàn Quốc trong đợt này theo số liệu của Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh cung cấp. So với hàng nghìn chỉ tiêu từng được ghi nhận cùng thời điểm năm trước, sự chênh lệch là đáng chú ý.
Tuy nhiên, chỉ dựa vào con số này để cho rằng, người lao động không còn mặn mà với thị trường Hàn Quốc là chưa đủ. Thực tế, vấn đề họ cân nhắc không hẳn là “có đi Hàn Quốc hay không”, mà là lựa chọn hợp đồng nào để mức thu nhập và điều kiện làm việc tương xứng với chi phí, công sức bỏ ra.
Một lao động ở xã Nghi Lộc cho hay, anh đã mong muốn sang Hàn Quốc làm việc trong ngành nông nghiệp hoặc xây dựng nhiều năm. Đến khi có cơ hội, anh vẫn phải cân nhắc khi biết mức thu nhập dự kiến khoảng 30 triệu đồng/tháng. "Tôi muốn đi Hàn Quốc theo ngành sản xuất chế tạo đã từ nhiều năm nay, nhưng bây giờ mới có cơ hội dù chỉ được tuyển dụng ngành nông nghiệp. Khi cập nhật nay chỉ còn khoảng 25- 30 triệu đồng/tháng, chúng tôi cũng hơi đắn đo. Tuy nhiên, bây giờ tôi vẫn quyết định đi vì đã xong thủ tục” - anh nói.
Theo những lao động sang Hàn Quốc làm việc đợt này, với người đang có thu nhập 10 - 12 triệu đồng/tháng ở trong nước, mức 25 - 30 triệu đồng tại Hàn Quốc vẫn là khoản thu nhập đáng kể. Tuy nhiên, chênh lệch này không còn đủ sức tạo sức hút như trước khi đặt cạnh thời gian học tiếng, thi tuyển, chờ đợi, chi phí cơ hội khi xa gia đình.

Bên cạnh đó, một trong những lý do khiến họ không còn quá mặn mà với Chương trình EPS là cơ hội tăng ca, làm thêm để nâng thu nhập tại Hàn Quốc không còn dễ dàng như trước. Trong khi đó, ngay tại Nghệ An và các địa phương khác, số lượng doanh nghiệp, khu công nghiệp, cơ sở sản xuất, dịch vụ và các công việc mới ngày càng nhiều.
Ông Trần Hữu Thượng - Phó Giám đốc Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh cho rằng, số lượng lao động mong muốn sang Hàn Quốc theo diện EPS ngày càng giảm khi cơ hội việc làm trong tỉnh và địa phương nhiều hơn.
Điều này cho thấy tâm lý của lao động nông thôn đang có sự thay đổi đáng kể. Nếu trước đây, đi nước ngoài gần như đồng nghĩa với cơ hội tăng mạnh thu nhập, thì nay người lao động cân nhắc kỹ hơn về hiệu quả thực tế: Thời gian xa nhà, chi phí cơ hội, khả năng làm thêm và khoản thu nhập còn lại sau khi trừ chi phí sinh hoạt. Khi những yếu tố này được đặt lên bàn cân, lợi thế “chi phí đi thấp” không còn đủ sức thuyết phục, ông Trần Hữu Thượng nhận định.
.png)
Một nghịch lý đang hiện rõ ở thị trường Hàn Quốc: Lao động phổ thông khó tuyển nhưng lao động có tay nghề lại rất được săn đón.
Cùng một thị trường, cùng là cơ hội làm việc tại Hàn Quốc, nhưng mức độ quan tâm của người lao động lại khác nhau rất xa tùy thuộc vào giá trị của công việc.

Các hợp đồng trong ngành hàn, đóng tàu theo diện E7-03 với mức thu nhập khoảng 45 - 60 triệu đồng/tháng vẫn thu hút đông lao động tham gia. Sau kỳ thi tuyển tay nghề với hơn 80 lao động tham gia, 35 học viên được HD Hyundai Heavy Industries lựa chọn tiếp tục chương trình làm việc tại Hàn Quốc. 9 học viên chưa xuất cảnh vẫn tiếp tục học để chờ cơ hội tuyển dụng bổ sung.
Tại Trường Cao đẳng KTCN Việt Nam - Hàn Quốc, ông Hồ Văn Đàm - Hiệu trưởng nhà trường cho biết, sau 2 khóa đào tạo theo Chương trình E7-03 đã có hơn 60 học viên được xuất cảnh. Hiện, trường tiếp tục tuyển thêm 30 học viên nhưng số lượng đăng ký lên tới 80 người.

Điều gì tạo ra sự khác biệt? Đó là tay nghề. Phần lớn lao động đăng ký theo diện E7-03 đã có nhiều năm làm nghề hàn. Nếu làm việc trong nước, mức thu nhập của họ khó đạt 15 - 20 triệu đồng/tháng, trong khi sang Hàn Quốc, thu nhập có thể lên tới 60 triệu đồng nếu có tăng ca.
Như vậy, thay vì chỉ vận động lao động đăng ký khi có chỉ tiêu, cần chú trọng hơn đến khâu chuẩn bị nguồn nhân lực. Người lao động cần được định hướng sớm về những ngành nghề có nhu cầu tuyển dụng, đào tạo nghề song song với tiếng Hàn, đồng thời, được cung cấp đầy đủ thông tin về thu nhập thực tế, điều kiện làm việc, khả năng tăng ca và thời gian chờ xuất cảnh. Bởi chỉ tiêu tuyển dụng chỉ phát huy hiệu quả khi tìm được đúng người phù hợp.

Ở chiều ngược lại, việc lao động kém mặn mà với các hợp đồng thu nhập thấp cũng là tín hiệu để cơ quan quản lý và đơn vị phái cử nhìn lại cách tiếp cận thị trường. Khi thu nhập, điều kiện làm việc và cơ hội gia tăng thu nhập không còn vượt trội, lợi thế “chi phí thấp” khó đủ sức tạo sức hút như trước.
Đây cũng là lý do những chương trình gắn đào tạo nghề với việc làm đang có nhiều dư địa phát triển. Với lao động đã có tay nghề, xuất khẩu lao động không chỉ là giải pháp tăng thu nhập trước mắt mà còn có thể trở thành quá trình nâng cao kỹ năng, tác phong công nghiệp và kinh nghiệm nghề nghiệp.
Trong khi đó, với lao động phổ thông, nếu chỉ đưa họ sang những ngành có thu nhập không quá chênh lệch so với trong nước, lợi thế của thị trường lao động ngoài nước sẽ ngày càng suy giảm.

Khi việc làm trong nước ngày càng nhiều, EPS không còn cạnh tranh với sự thiếu việc làm của người lao động mà phải cạnh tranh trực tiếp với chính những lựa chọn việc làm trong nước. Đó mới là thay đổi lớn nhất của thị trường.
Và cũng từ đây, chính sách xuất khẩu lao động cần chuyển mạnh hơn từ tư duy “đưa được bao nhiêu người đi” sang “đưa được bao nhiêu lao động có kỹ năng đến đúng thị trường, đúng việc làm và tạo ra thu nhập bền vững”. Bởi trong một thị trường mà người lao động ngày càng có nhiều lựa chọn, một suất đi nước ngoài dù chi phí thấp đến đâu cũng sẽ không còn hấp dẫn nếu giá trị nhận được không đủ lớn.
Thanh Nga