Điểm tựa giữa đại ngàn Pù Mát
Nơi vùng lõi Vườn quốc gia Pù Mát, tộc người Đan Lai từng sống tách biệt giữa rừng sâu, đối mặt với vòng xoáy đói nghèo, lạc hậu. Bằng sự hy sinh thầm lặng và tình cảm gắn bó máu thịt, lớp lớp cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng Nghệ An đã trở thành điểm tựa vững chắc, cùng đồng bào thắp sáng tương lai trên dải đất biên cương.
Lê Xuân - Kha Thường / Trình bày: Hồng Toại • 04/10/2026
*****
Nơi vùng lõi Vườn Quốc gia Pù Mát, tộc người Đan Lai từng sống tách biệt giữa rừng sâu, đối mặt với vòng xoáy đói nghèo, lạc hậu. Bằng sự hy sinh thầm lặng và tình cảm gắn bó máu thịt, lớp lớp cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng Nghệ An đã trở thành điểm tựa vững chắc, cùng đồng bào thắp sáng tương lai trên dải đất biên cương.
Một ngày ngược sông Giăng, vào chốn “sơn cùng thủy tận”, nơi tộc người Đan Lai đang sinh sống, chúng tôi gặp già làng La Văn Linh, Trưởng ban Công tác Mặt trận bản Cò Phạt. Ánh mắt già trở nên xa xôi, đượm nét buồn mênh mang khi nhắc về câu chuyện trong quá khứ:
“Ngày ấy, dân bản không sống tập trung, tụ thành từng cụm nhỏ khoảng 3 nhà ven con suối, hoặc các bãi bồi. Hàng ngày, bà con vào rừng săn bắt, hái lượm. Mỗi sáng đi hái măng, đào khoai mài, củ nu, thế nhưng sản lượng đào được rất ít, bởi lẽ trồng được cây nào thì lợn rừng và các động vật phá sạch. Cuộc sống quanh năm thiếu đói triền miên. Sống trong rừng sâu, không biết ngôn ngữ các dân tộc khác nên không thể giao tiếp, cứ thấy người lạ, bà con lại chạy trốn vào rừng thẳm. Không quen biết người ngoài nên dân bản trong cụm lấy nhau. Con đứa khỏe thì nuôi, đứa yếu quá, đành về với núi rừng”…


Từ những năm 1980-1981, khi đó già làng La Văn Linh còn là một thanh niên trai tráng, trở thành một trong những người đầu tiên của tộc người Đan Lai được các anh Bộ đội Biên phòng dạy biết viết, biết đọc và biết nói tiếng Kinh. Đến năm 2006, khi Đề án “Bảo tồn và Phát triển bền vững tộc người Đan Lai” (Quyết định 280/2006/QĐ-TTg) triển khai, các chiến sĩ lại tiếp tục kiên trì giúp đỡ bà con ổn định cuộc sống, dựng xây sắc mới bản làng.
Đường vào bản Khe Búng dọc theo sông Giăng. Ngày đó, cây giang còn che kín bên bờ sông, nhiều đoạn thảm thực vật ken dày, níu bước chân người lính Biên phòng. Để vào với bà con bản Đan Lai, chưa có đường, các anh phải lội qua từng đoạn suối, vượt từng con thác trên dòng khe Khặng.

Già làng La Văn Linh bùi ngùi nhớ lại: “Đường sá hiểm trở quá, sông mùa lũ hung dữ, nên nhiều người lính Biên phòng đã bị dòng nước cuốn đi trong những chuyến công tác cùng bà con Đan Lai. Các cô có biết con dốc có tên ông Hiệu không? Năm 1980, ông Hiệu đi công tác trong này ra, đến dốc này thì ông không vượt qua được, nước cuốn ông đi. Tui còn nhớ rõ, ông ấy tên là Lê Văn Hiệu, người ở Thanh Chương, đã giúp đỡ dân bản rất nhiều. Dân bản thương nhớ quá, đặt tên con thác này là thác ông Hiệu.
Sau này, năm 1995, một ngày đã gần trưa, anh Bộ đội Biên phòng chào bà con trở về đơn vị, đến thác Văng Mùn, một lần nữa, anh lại không qua được, dòng nước hung dữ đã cuốn anh đi. Lực lượng dân quân của xã Môn Sơn, của bản làng và đồng đội tập trung tìm kiếm, nhưng mãi 3 ngày sau mới tìm thấy xác anh ở cuối dòng khe Khặng…”.
Song, vượt qua gian nguy, các thành viên Tổ công tác khe Khặng vẫn khoác hành lý, lương thực trên vai, vượt thác, bám bản cùng đồng bào. Ngày ấy, cuộc sống người Đan Lai chưa có gì: Không đường, không điện, không trường, quanh năm ăn sắn thay cơm, cả năm chỉ duy nhất một bộ quần áo.
Giữa núi rừng sơ khai, các anh bắt tay khai hoang từng thửa ruộng nước, dạy bà con từ đường cày đầu tiên. “Từ những mảnh ruộng đó đã cho thu hoạch các mùa vụ sai bông”, già Linh nhớ lại. Suốt 3 năm ròng rã cầm tay chỉ việc, các anh giúp bản hình thành những nhóm sản xuất từ 3 đến 4 hộ cùng làm trên một vùng, dần đẩy lùi cái đói.
.png)
Rồi những lớp học xóa mù chữ được mở ra. Những lớp học mà học viên ở nhiều độ tuổi, những phát âm đầu tiên còn ngượng nghịu, những nét bút đầu tiên còn vụng về… Sau này, dù đã có những mái lá đầu tiên được dựng lên làm trường học, nhưng cứ vào dịp 3 tháng Hè, các cô giáo tranh thủ về thăm gia đình, các anh lại trở thành những “thầy giáo mang quân hàm xanh”.
“Phải dạy liên tục chị ạ, để ít lâu là các bác, các em quên hết. Qua mùa Hè lại dạy mới từ đầu”, Trung tá Võ Văn Quỳnh, cán bộ Đội vận động quần chúng, Đồn Biên phòng Môn Sơn cười nói. “Các chị không biết đó chứ, những ngày đầu, sáng nào chúng tôi cũng đẩy một chiếc xe bò đi quanh làng làm vệ sinh. Chúng tôi vào từng gia đình, bày dạy cách dọn vệ sinh, vừa làm, vừa hướng dẫn, dặn dò. Các gia đình Đan Lai ban đầu còn ở nhà sàn, mà sàn nhà thấp, được dựng theo phương pháp xỏ que rất thủ công. Vừa vận động, vừa trực tiếp làm cùng, nên dần dần bà con cũng ăn ở hợp vệ sinh hơn”.
.png)
Từ những chuyến công tác đơn lẻ, đến lập tổ công tác, lực lượng Biên phòng đã thành lập Trạm Kiểm soát Biên phòng Khe Khặng, cử các đồng chí đảng viên của đồn về sinh hoạt Đảng tại hai chi bộ bản Búng và Cò Phạt, nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng xuống các chi bộ cơ sở.
Trung tá Võ Văn Quỳnh nhớ lại: “Ban đầu, Chi bộ bản Cò Phạt chỉ có 3 đồng chí. Trong các buổi sinh hoạt, cán bộ Biên phòng luôn có mặt, hỗ trợ ghi chép sổ sách, bổ sung nội dung và cùng thảo luận ra nghị quyết”. Nhờ vậy, sinh hoạt chi bộ từng bước đi vào nền nếp, nhưng bài toán khó tiếp theo là làm sao tạo nguồn kết nạp đảng viên tại chỗ. Việc vượt qua rào cản tâm lý e ngại ban đầu của bà con chưa bao giờ là điều đơn giản. Anh Quỳnh cho rằng, giải pháp duy nhất là phải làm bằng cái tâm, thực sự vì cuộc sống người dân, kiên trì vận động từng ngày để bà con hiểu và tin.
Ở vùng biên này, làm Bí thư Đoàn hay Chi hội trưởng Phụ nữ công việc rất vất vả mà phụ cấp lại chẳng đáng bao nhiêu. Vận động được họ gánh vác trọng trách đã khó, rèn luyện để họ đủ điều kiện đứng vào hàng ngũ của Đảng lại là một hành trình dài. Bằng sự kiên trì nối tiếp qua nhiều thế hệ cán bộ bám bản, Chi bộ Cò Phạt từ 3 đảng viên đầu tiên nay đã phát triển lên 18 đồng chí.
Một trong những hạt nhân trẻ tiêu biểu, thể hiện rõ nét sự trưởng thành của thế hệ cán bộ Đan Lai hôm nay chính là chị La Thị Pìa - Bí thư Chi bộ bản Cò Phạt. Chúng tôi được anh Quỳnh dẫn tới gặp chị Pìa - cô gái Đan Lai có đôi mắt sáng, gương mặt duyên dáng và sự nhanh nhẹn, hoạt bát. Chị sinh năm 1999, dù còn trẻ nhưng là một trong những người chịu khó, nhanh nhẹn trong xây dựng kinh tế hộ, xốc vác trong công tác hỗ trợ, giúp đỡ dân bản.



Năm 2023, chị Pìa là một trong những người đầu tiên mở quán, vừa bán nước, vừa cung cấp các mặt hàng thiết yếu. Quán chị lúc nào cũng đông khách, dần dần, bà con học hỏi cách làm của chị, nâng con số quán hàng ở bản Cò Phạt lên 11 trong năm 2026. Cứ nghĩ chị Pìa sẽ chỉ gắn bó với quán hàng, vừa đủ nuôi sống gia đình, nhưng với vai trò Chi hội trưởng Phụ nữ bản Cò Phạt, chị mạnh dạn thể nghiệm những cung cách làm ăn mới.
Những năm gần đây, thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo cho người Đan Lai, tiểu dự án chăn nuôi gia súc, gia cầm được triển khai tại bản Cò Phạt và bản Khe Búng. Chị Pìa được tham gia các khóa tập huấn, hướng dẫn phương pháp chăn nuôi, để nhân rộng mô hình và triển khai cho bà con. Khi chị thông báo dự án tới dân bản thì chỉ nhận được sự từ chối: “Con gà, con ngỗng nhỏ và yếu thế, làm sao nuôi sống được!”.
Chị Pìa nghĩ, cuộc sống của dân bản, lúc có công việc cũng cần có con gà, con vịt. Những lúc như thế, bà con phải đi mua, đường sá xa xôi nên giá cả cũng cao hơn, chi bằng tự chủ động nguồn gia súc, cũng góp phần cải thiện đáng kể đời sống. Nghĩ là làm, chị Pìa nhận giống, rồi vừa học kỹ thuật nuôi, vừa chăm sóc theo hướng dẫn, chẳng mấy chốc lứa gà, ngan đầu tiên đã lớn phổng. Dân bản vào xem tận mắt vẫn không tin, cho rằng chị Pìa lấy gia súc đã lớn nơi khác thả vào chuồng nhà mình.

Chị Pìa lại phải giải thích, rằng có giống rồi, phải về làm theo hướng dẫn, chứ cứ thả vậy, không chăm sóc, có sao được vậy thì không nuôi được đâu. Tới nay, chị đã có đàn gà 80 con, đàn ngan 50 con… Các gia đình khác trong bản cũng học hỏi, ở bản Cò Phạt và bản Búng, hầu như gia đình nào cũng chăn nuôi gia cầm, trung bình các hộ có vài con lợn trở lên trong chuồng trại.
“Tiếp nối thế hệ các bí thư chi bộ giàu kinh nghiệm và nhiệt huyết như già làng La Văn Linh, thế hệ tiếp theo vừa tháo vát, nhiệt tình, vừa làm chủ, kết nối thông tin, công nghệ, thực sự đáp ứng yêu cầu về cán bộ thôn, bản trong tình hình hiện nay”, Trung tá Võ Văn Quỳnh cho biết. Dường như anh thực sự rất vui vì đã bồi dưỡng được người cán bộ vừa hồng, vừa chuyên nơi bản làng xa xôi của miền Tây Nghệ An.

Trên các bản Cò Phạt, Khe Búng hôm nay, dấu vết của một chốn “sơn cùng thủy tận” năm nào dường như đã lùi sâu vào quá khứ. Con đường nội bản đã được bê tông hóa phẳng lì, chạy qua những ngôi nhà “ba cứng” khang trang, và những khu vườn rau, vườn cây ăn quả được che chắn, trải màu xanh mướt mát.


Từ nguồn vốn Chương trình Mục tiêu quốc gia 1719 và dự án xóa nhà tạm, tính đến cuối tháng 7/2025, toàn bộ 78 căn nhà khang trang (gồm 58 căn xây mới và 20 căn sửa chữa) đã hoàn thành. Lực lượng Biên phòng cùng Công an, Kiểm lâm, cán bộ xã Môn Sơn đã đồng hành từ những ngày san nền, dỡ bỏ nhà cũ, vận chuyển vật liệu đến dựng hoàn thiện những mái ấm vững chãi cho bà con.



Sự chăm chút của người lính Biên phòng đối với tộc người Đan Lai tỉ mẩn đến từng nếp sinh hoạt nhỏ nhất. Ban đầu là mô hình “Gian hàng 0 đồng” mở ra tại các phiên chợ trung tâm xã Môn Sơn. Nhận thấy tính hiệu quả, các anh quyết định đưa gian hàng về đặt ngay tại Trạm Kiểm soát Biên phòng Khe Khặng. Căn phòng nhỏ được bà con gọi bằng cái tên thân thương: "Ngôi nhà thiện nguyện". Cứ mỗi tháng hai lần, ngôi nhà ấy lại mở cửa. Quần áo còn tốt do bà con vùng ngoài quyên góp được giặt giũ sạch sẽ, treo thẳng thớm; những chai dầu ăn, nước mắm, gói muối, thuốc men cần thiết được các anh kiên trì vận động từ các doanh nghiệp, nhà hảo tâm gửi lên. Mỗi đợt 20 hộ gia đình trong bản được luân phiên đến nhận. Của ít lòng nhiều, nhưng chưa bao giờ gian hàng ấy vắng bóng nụ cười.



Hình ảnh anh bộ đội Cụ Hồ đi vào lòng dân từ những việc làm bình dị như thế, đó là sự hy sinh thầm lặng của những người “Bố biên phòng” đang "Đồng hành cùng ký túc xá vùng biên" tại xã Môn Sơn.
Nằm ở trung tâm xã Môn Sơn, ký túc xá vùng biên hiện là ngôi nhà chung của 113 em học sinh, trong đó có 98 em học sinh Đan Lai nội trú và 15 em dân tộc Thái ở bản Mọi. Đảm nhận nhiệm vụ quản lý nơi đây là Trung tá Phan Văn Thắm - cán bộ Tổ vận động quần chúng. Giữa khoảng sân lộng gió, "bố Thắm" - cách gọi thân thương mà bọn trẻ dành cho anh, trải lòng: "Ở nhà, nuôi hai đứa con đã thấy vất vả, vào đây quản lý hàng trăm cháu, lúc đầu lo lắm. Nhưng thương bà con, thương các con phải xa cha mẹ từ nhỏ nên mình phải ra với chúng. Với các con, quản lý cứng nhắc bằng mệnh lệnh là hỏng ngay, các con sẽ trốn về rừng liền. Chỉ có thể thủ thỉ, động viên, lấy tình thương của người cha để chăm lo từng chút một".


Ở ký túc xá, nếp sống quân ngũ được áp dụng một cách uyển chuyển, linh hoạt. Đúng 19 giờ tối, tiếng còi của "bố Thắm" vang lên, bọn trẻ tự giác ngồi vào bàn học. Đến 21 giờ 30 phút, tiếng còi thứ hai vang lên là lúc các bố kiểm tra sĩ số, rà soát từng gian phòng đảm bảo không bạn nào trốn ra ngoài đi chơi.
Mỗi học sinh nội trú được hưởng chế độ bán trú theo quy định của Nhà nước, nhưng số tiền ít ỏi ấy khó đảm bảo cho lũ trẻ đang tuổi ăn, tuổi lớn. Thương các con, Đồn Biên phòng Môn Sơn còn duy trì mô hình “Mì vui sao xanh”, vận động kinh phí hỗ trợ thêm 2 bữa ăn sáng chất lượng (trị giá 20-25 ngàn đồng/suất) mỗi tuần cho các con trong suốt năm học. Cứ đều đặn một tuần hai buổi, các "bố" lại dậy từ 4 giờ sáng, tự tay chuẩn bị bữa ăn sáng "tươi ngon" cho hàng trăm đứa trẻ. Có những đợt đơn vị bận công tác đột xuất, chỉ còn một "bố" ở lại ký túc xá, anh vẫn xoay xở kịp thời phục vụ đủ hàng trăm suất ăn sáng cho các con trước giờ vào lớp.
Trong ký ức của người lính Biên phòng gắn bó với ký túc xá vùng biên, có những kỷ niệm đã trở thành tình cha con thiêng liêng. Trung tá Phan Văn Thắm nhớ mãi trường hợp của cháu La Văn Trọng (nay đã lên học cấp 3). Hồi Trọng còn học cấp 2, một đêm nọ em bị đau bụng dữ dội. Đưa lên trạm xá uống thuốc không đỡ, nhận thấy dấu hiệu nguy hiểm, "bố Thắm" cùng đồng đội lập tức dùng xe chở Trọng vượt đường đêm ra Bệnh viện Đa khoa khu vực Tây Nam. Nhờ đến kịp thời, các bác sĩ đã mổ cấp cứu ruột thừa cho Trọng ngay trong đêm, giành lại sự sống trong khoảnh khắc.
Nhờ sự chăm sóc, nuôi dưỡng tận tụy của những "người bố mang quân hàm xanh", kết quả học tập của học sinh Đan Lai ngày một tiến bộ, tỷ lệ đến trường năm sau cao hơn năm trước, số lượng học sinh thi đỗ lên cấp 3 tăng rõ rệt. Nhưng điều thay đổi lớn nhất chính là phong thái của những đứa trẻ nơi đây. Chúng không còn là những đứa trẻ rụt rè, bẽn lẽn, sợ hãi người lạ của mấy mươi năm về trước.
Chúng tôi bước vào gian phòng ở của các bạn nữ sinh lớp 7. Căn phòng nhỏ gọn gàng, chăn màn gấp ngăn nắp. Vừa thấy khách bước vào, những cô học trò Đan Lai nhỏ nhắn lập tức đứng dậy, xúm xít vây quanh, khoanh tay chào rõ to. Khi giơ máy ảnh lên, các em không hề chạy trốn mà vui vẻ vẫy tay, cười đùa và cảm ơn ríu rít.

Nhìn những ánh mắt trong veo, những nụ cười rạng rỡ của lũ trẻ dưới mái trường vùng biên, chúng tôi hiểu rằng: Hành trình thắp sáng bản làng Đan Lai của Bộ đội Biên phòng Nghệ An không chỉ là khai hoang những thửa ruộng nước hay dựng nên những ngôi nhà cứng cáp, mà lớn lao hơn, các anh đã gieo mầm hy vọng, mở ra tương lai ấm no, tươi sáng cho đồng bào Đan Lai giữa đại ngàn Pù Mát.
Lê Xuân - Kha Thường