Tận dụng thời cơ, sẵn sàng cho giai đoạn phát triển mới
Năm 2025 được xác định là năm tăng tốc, bứt phá nhằm hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Kế hoạch 5 năm 2021 - 2025, đồng thời, tạo nền tảng cho giai đoạn phát triển tiếp theo.

BÙI THANH AN -
Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy,
Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh
• 30/12/2025
Năm 2025 được xác định là năm tăng tốc, bứt phá nhằm hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Kế hoạch 5 năm 2021 - 2025, đồng thời, tạo nền tảng cho giai đoạn phát triển tiếp theo. Bám sát các Nghị quyết, Kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị; sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương, cùng với các Nghị quyết của Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, UBND tỉnh đã chủ động nắm chắc tình hình thực tiễn, chỉ đạo quyết liệt, linh hoạt và hiệu quả.
* * * * *
Trong bối cảnh kinh tế chung còn nhiều khó khăn, tổng sản phẩm GRDP trên địa bàn năm 2025 ước tăng 8,44%, xếp thứ 3 tiểu vùng Bắc Trung Bộ và thứ 13 cả nước. Kết quả này không đơn thuần mang ý nghĩa của một năm mà phản ánh xu thế phục hồi và tăng trưởng tương đối vững chắc của cả giai đoạn 2021 - 2025. Nhìn lại năm qua, có thể khái quát 5 điểm sáng lớn của nền kinh tế tỉnh, đồng thời cũng là những dấu ấn tiêu biểu của cả nhiệm kỳ.
Điểm sáng thứ nhất, có ý nghĩa đặc biệt, là việc lần đầu tiên Nghệ An hoàn thành chỉ tiêu thu ngân sách theo Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh. Thu ngân sách Nhà nước (đến 26/12/2025) đạt 28.569 tỷ đồng, vượt 61,2% dự toán, tăng 11,8% so với cùng kỳ (thu nội địa 26.521 tỷ đồng, xuất nhập khẩu đạt 1.897 tỷ đồng). Về bản chất, ngân sách được tạo ra từ sản xuất, kinh doanh vốn là lĩnh vực luôn có độ trễ. Một dự án đầu tư cần từ một đến ít nhất 2 năm để vận hành ổn định, tạo doanh thu, lợi nhuận và phát sinh thuế. Vì vậy, kết quả thu ngân sách năm 2025 là sự kết tinh của nỗ lực nhiều năm, nhiều nhiệm kỳ.
Cùng với đó, công tác quản lý thu đã có bước chuyển căn bản, đặc biệt, chuyển đổi cơ bản phương thức quản lý thuế đối với doanh nghiệp, hộ kinh doanh. Việc triển khai hóa đơn điện tử, kết nối dữ liệu thời gian thực với cơ quan thuế, đặc biệt là "Chiến dịch 30 ngày đêm” chuyển đổi thuế khoán sang kê khai đối với hộ kinh doanh, thể hiện rõ quyết tâm chính trị và năng lực tổ chức thực hiện, tạo nền tảng cho nguồn thu bền vững, minh bạch.
Điểm sáng thứ hai là kết quả thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Ba năm liên tiếp (2023, 2024, 2025), tổng vốn FDI đều vượt mốc 1 tỷ USD. Trong nhóm 10 địa phương thu hút FDI lớn nhất cả nước, Nghệ An là địa phương duy nhất nằm ngoài các vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và phía Nam nhưng vẫn liên tục góp mặt 4 năm liền (2022, 2023, 2024 và 2025).



Đáng chú ý, năm 2025 vốn FDI điều chỉnh tăng thêm trên 700 triệu USD, cao hơn vốn đăng ký mới. Xu hướng này thể hiện niềm tin dài hạn, đồng thời, phản ánh chất lượng dòng vốn đã được thu hút trong giai đoạn trước khi các doanh nghiệp hiện hữu đang vận hành hiệu quả, có thị trường và nhu cầu mở rộng sản xuất.
Điểm sáng thứ ba là sự chủ động chuẩn bị các tiền đề phát triển cho giai đoạn tiếp theo, nhất là hạ tầng kỹ thuật thiết yếu như: Cảng biển nước sâu, cảng hàng không, đường bộ cao tốc, điện và hạ tầng bất động sản công nghiệp. Với sự tham gia của các nhà đầu tư hạ tầng khu công nghiệp lớn như: VSIP, WHA Industrial Zone - Nghệ An, Hoàng Thịnh Đạt, đến nay, tỉnh đã chuẩn bị được khoảng 1.000 ha quỹ đất sạch sẵn sàng thu hút các nhà đầu tư thứ cấp.

Điểm sáng thứ tư là kim ngạch xuất khẩu hàng hóa năm 2025 ước đạt 4,4 tỷ USD, cao hơn nhiều so với mục tiêu 1,765 tỷ USD đặt ra tại Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX. Kim ngạch xuất khẩu tăng qua các năm cho thấy các dự án FDI và doanh nghiệp trong tỉnh đã vượt qua giai đoạn đầu tư ban đầu, chuyển sang vận hành ổn định và tham gia ngày càng sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Điểm sáng thứ năm, mang ý nghĩa chiến lược lâu dài là sự chuyển dịch căn bản cơ cấu công nghiệp theo hướng hiện đại. Từ chỗ dựa chủ yếu vào các ngành truyền thống, công nghiệp Nghệ An đã chuyển mạnh sang công nghiệp chế biến, chế tạo. Năm 2025, Chỉ số sản xuất công nghiệp ước tăng 17%; trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14%, nổi bật là sản xuất linh kiện điện tử của các dự án FDI. Sự chuyển dịch này đã đưa Nghệ An trở thành 1 trong 3 trung tâm công nghiệp chế biến, chế tạo của cả nước, cùng với Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và vùng phụ cận, được Chính phủ ghi nhận.

.jpg)
.jpg)

Đặt trong bối cảnh nhiệm kỳ vừa qua, có thể phác họa rõ nét bức tranh kinh tế tỉnh nhà đang chuyển động theo hướng bền vững hơn, có chiều sâu hơn và năng lực chống chịu tốt hơn. Tuy vậy, đây không phải là sự bứt phá mang tính thời điểm, càng không phải kết quả của những giải pháp tình thế mà là kết tinh của một quá trình tích lũy liên tục, được chuẩn bị bài bản, kiên trì và nhất quán qua nhiều nhiệm kỳ.
Quan trọng hơn, những thành quả này tạo nền tảng vững chắc để Nghệ An bước vào giai đoạn phát triển tăng tốc 2026 - 2030 với mục tiêu tăng trưởng bình quân từ 12% trở lên. Đây là mục tiêu hoàn toàn khả thi, được lãnh đạo Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đặt ra dựa trên phân tích những cơ sở cụ thể, rõ ràng và có tính hệ thống, xét trên cả bình diện chính trị, pháp lý, nguồn lực đầu tư, hạ tầng, con người và vị thế phát triển.

Trước hết, nền tảng quan trọng nhất để xác lập giai đoạn phát triển mới của Nghệ An là việc tỉnh đã hội tụ đầy đủ các cơ sở chính trị và pháp lý ở tầm chiến lược. Sự quan tâm, kỳ vọng của Trung ương đối với Nghệ An đã được thể chế hóa bằng hệ thống nghị quyết tạo khung khổ phát triển đồng bộ, ổn định và lâu dài. Đó là Nghị quyết số 39-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển tỉnh Nghệ An đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết số 36/2021/QH15 và Nghị quyết số 137/2024/QH15 của Quốc hội về thí điểm và bổ sung thí điểm các cơ chế, chính sách đặc thù; cùng Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Song hành với thể chế, hạ tầng phát triển của tỉnh đã được chuẩn bị tương đối đầy đủ và đồng bộ, vượt qua giai đoạn “thiếu và yếu” để bước sang giai đoạn đủ điều kiện tăng tốc. Hạ tầng không chỉ được nhìn nhận ở khía cạnh giao thông mà được tiếp cận theo nghĩa tổng thể: Giao thông kết nối liên vùng, hạ tầng khu công nghiệp và mặt bằng đầu tư sẵn sàng, hạ tầng năng lượng, viễn thông, chuyển đổi số và hạ tầng xã hội. Ngay cả ở khu vực trung du, miền núi khả năng tiếp cận các dịch vụ cơ bản cũng đã được cải thiện rõ rệt, tạo tiền đề để thu hẹp dần khoảng cách phát triển giữa các vùng.

Một yếu tố có ý nghĩa đặc biệt, mang tính “điều kiện mềm” nhưng quyết định khả năng bứt phá, là sự chuyển biến rõ nét trong tư duy phát triển và khát vọng vươn lên của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và người dân tỉnh nhà. Tư duy “tỉnh còn nghèo, còn khó” đến nay cơ bản đã được thay thế bằng nhận thức mới “đây là thời điểm phải vượt lên, nếu không nắm bắt cơ hội sẽ có lỗi với lịch sử phát triển của tỉnh”. Sự thay đổi này đang dần được chuyển hóa thành hành động, chi phối cách nghĩ, cách làm và phương thức tổ chức thực hiện.

Cùng với sự thay đổi tư duy, sau nhiều năm kiên trì và nhất quán, Nghệ An đã từng bước hình thành được vị thế và thương hiệu rõ nét trong thu hút đầu tư. Tỉnh đã và đang trở thành cứ điểm sản xuất, kinh doanh lâu dài của nhiều tập đoàn lớn trong và ngoài nước, đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo. Đi cùng với đó, cải cách hành chính và thái độ phục vụ ngày càng được cải thiện, từng bước trở thành lợi thế cạnh tranh thực chất, dù vẫn còn dư địa để tiếp tục nâng cao.

Để hiện thực hóa mục tiêu đề ra, trên cơ sở đánh giá toàn diện tình hình kinh tế - xã hội, làm rõ thế mạnh, tiềm năng cũng như những hạn chế của từng không gian phát triển, lãnh đạo tỉnh đã xác lập các định hướng chiến lược gắn với những chỉ đạo cụ thể. Trọng tâm là khai thác hiệu quả lợi thế so sánh của từng vùng, tổ chức lại các nguồn lực theo hướng hợp lý hơn, qua đó, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững, từng bước nâng cao thu nhập và cải thiện chất lượng đời sống của người dân.
Trước hết, vùng đồng bằng ven biển tiếp tục là trụ cột tăng trưởng quan trọng nhất. Tỉnh xác định tập trung vào 2 hướng lớn. Một là, mở rộng không gian Khu kinh tế Đông Nam từ khoảng 21.000 ha hiện nay lên 105.000 ha, gắn với hoàn thiện hạ tầng cảng biển nước sâu Cửa Lò, Điện khí LNG Quỳnh Lập và Cảng Hàng không quốc tế Vinh, tạo tiền đề thu hút các dự án công nghiệp, logistics và dịch vụ hậu cần quy mô lớn.

Hai là, phát triển đô thị và dịch vụ theo hướng hiện đại, đồng bộ, vừa mở rộng không gian sống, vừa tạo động lực tăng trưởng mới cho khu vực dịch vụ. Điểm nhấn là tái định hình trục tăng trưởng đô thị trên cơ sở kết nối Đại lộ Vinh - Cửa Lò, đường 72, Khu công nghiệp, đô thị và dịch vụ VSIP và Ga Vinh trên tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam. Trên cơ sở đó, phát triển đô thị quanh Ga Vinh theo mô hình TOD sẽ mở ra không gian phát triển mới, tăng sức lan tỏa cho toàn vùng và khai thác hiệu quả hơn du lịch biển Cửa Lò theo hướng 4 mùa. Về lâu dài, có thể nghiên cứu, đề xuất Trung ương cho phép hình thành các yếu tố kinh tế, thương mại tự do tại hành lang kinh tế phía Đông này.

Đối với các vùng trung du và miền núi, tỉnh xác định 2 trụ cột tăng trưởng chủ đạo. Trụ cột thứ nhất là, hình thành và phát triển các vùng nguyên liệu tập trung, quy mô đủ lớn, gắn chặt với công nghiệp chế biến và thị trường tiêu thụ ổn định. Trong thời gian tới, một trong những trọng tâm là phát triển các vùng nguyên liệu với quy mô lớn gắn với các cơ sở chế biến sâu, nâng cao giá trị gia tăng.
Trụ cột thứ hai là, đẩy mạnh nông nghiệp, lâm nghiệp công nghệ cao để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sử dụng đất đai, tài nguyên rừng. Song song với đó, tỉnh kêu gọi các nhà đầu tư chuyên nghiệp phát triển các cụm công nghiệp với quy mô khoảng 50 - 70 ha/cụm có hạ tầng đồng bộ, chuyên nghiệp và lựa chọn ngành nghề phù hợp để tạo việc làm tại chỗ, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế.



Những kết quả đạt được trong giai đoạn 2021 - 2025 đã tạo nền tảng vật chất cần thiết, song điều quan trọng hơn là bồi đắp thêm niềm tin, khát vọng và quyết tâm chính trị đủ mạnh để bước vào giai đoạn phát triển mới nhằm đưa “Nghệ An sớm trở thành tỉnh khá của cả nước, cực tăng trưởng tầm quốc gia; là trung tâm của khu vực Bắc Trung Bộ về công nghiệp và nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, y tế, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, thương mại, logistics, du lịch…”, như mục tiêu Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XX, nhiệm kỳ 2025 - 2030 đề ra.
.png)
Tuy nhiên, thực tiễn phát triển cho thấy, thành tựu của hôm nay nếu không được tiếp nối và tái tạo bằng những động lực mới thì rất dễ trở thành lực cản của ngày mai. Vì vậy, cùng với khai thác hiệu quả các động lực truyền thống là đầu tư, tiêu dùng và xuất khẩu; tỉnh đồng thời chủ động chuẩn bị các điều kiện, nuôi dưỡng các động lực tăng trưởng mới dựa vào phát triển nền kinh tế số, kinh tế tri thức và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo để giữ mức tăng trưởng 2 con số liên tục trong thời gian dài một khi các dư địa tăng trưởng truyền thống dần thu hẹp.



