
Tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân trong kỷ nguyên mới
Kỷ nguyên mới đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ, giải pháp đồng bộ mới để tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân.
Tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân trong kỷ nguyên mới của dân tộc có ý nghĩa quan trọng, không chỉ bảo đảm sự ổn định, phát triển bền vững đất nước, mà còn góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng, năng lực quản lý của Nhà nước, hiệu quả quản trị quốc gia, không ngừng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên và đề cao trách nhiệm của công dân.
Cơ sở lý luận và thực tiễn mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân
Chủ nghĩa Mác - Lê-nin xác định cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, chỉ rõ tầm quan trọng của mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân. Lê-nin chỉ rõ: “Chủ nghĩa xã hội sinh động, sáng tạo là sự nghiệp của bản thân quần chúng nhân dân”(1) và Người cảnh báo: “Một trong những nguy hiểm lớn nhất và đáng sợ nhất là tự cắt đứt liên hệ với quần chúng”(2).
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhận thức sâu sắc vai trò to lớn của nhân dân, thường xuyên chăm lo xây dựng và củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”(3). Người căn dặn: “Cách xa dân chúng, không liên hệ chặt chẽ với dân chúng, cũng như đứng lơ lửng giữa trời, nhất định thất bại”(4); “kinh nghiệm làm cách mạng là phải gần gũi quần chúng. Nếu xa quần chúng thì không làm được việc gì”(5). Người còn chỉ rõ: “Khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được địa vị lãnh đạo”(6).

Đề cập mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, ngay từ Đại hội III của Đảng (năm 1960), Đảng ta đã khẳng định: “Sức mạnh của nhân dân là ở chỗ có Đảng tiên phong lãnh đạo; sức mạnh vô địch của Đảng là ở chỗ liên hệ mật thiết với quần chúng đông đảo”(7). Đại hội XIII của Đảng đặt nhân dân ở vị trí trung tâm, là chủ thể trong chiến lược phát triển đất nước: “mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”(8). Đại hội XIII của Đảng nêu rõ việc tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân theo phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Đồng thời, nhấn mạnh phương hướng: “Lãnh đạo thể chế hóa Hiến pháp về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân nhằm phát huy cao nhất quyền làm chủ của nhân dân trong quá trình xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Nghiên cứu ban hành cơ chế để nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, xây dựng đội ngũ cán bộ. Tích cực đôn đốc, giám sát, kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết của Đảng về công tác dân vận”(9).

Quan hệ giữa Đảng với nhân dân được hình thành do đòi hỏi khách quan của sự nghiệp cách mạng. Đây là mối quan hệ rất đặc biệt. Đảng vừa là người lãnh đạo, cầm quyền, vừa là người phục vụ nhân dân, còn nhân dân tự giác ủng hộ, đồng tình với sự lãnh đạo của Đảng, lại là chủ nhân đất nước. Sức mạnh của Đảng ở sự gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân.
Phát huy truyền thống yêu nước, tiếp thu lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra quan điểm hết sức đúng đắn: “Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; nhân dân là chủ, nhân dân làm chủ”(10). Quan điểm đó khẳng định vị trí, tầm quan trọng đặc biệt của mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Chính nhờ quán triệt sâu sắc, nhất quán quan điểm đó nên Đảng ta đã sáng suốt lãnh đạo nhân dân ta đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược và giành nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
Bối cảnh, tình hình và một số giải pháp chủ yếu để tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân trong kỷ nguyên mới
Bối cảnh, tình hình thế giới, khu vực, trong nước có quan hệ rất chặt chẽ, tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân trong kỷ nguyên mới. Đại hội XIII của Đảng đã dự báo khách quan, sâu sắc tình hình quốc tế, khu vực và trong nước tác động đến việc tổ chức thực hiện nghị quyết, trong đó có mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân.
Tình hình thế giới tiếp tục có sự chuyển biến nhanh, phức tạp, khó lường. Hòa bình, hợp tác, phát triển vẫn là xu thế lớn, song đứng trước nhiều thách thức mới. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ giữa một số nước còn quyết liệt, kéo dài và tiềm ẩn phức tạp, cùng các vấn đề an ninh truyền thống, an ninh phi truyền thống tác động trực tiếp và lâu dài đến hoạt động kinh tế, thương mại, đầu tư… cũng như đường lối chính trị, đời sống xã hội, cuộc sống của người dân ở nhiều quốc gia. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tiếp tục phát triển mạnh mẽ, tác động sâu sắc đến mọi lĩnh vực, đến các giai tầng xã hội trên thế giới. Khoa học - công nghệ phát triển đột phá chưa từng có, góp phần tạo nên thành công, như trí tuệ nhân tạo (AI), internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn (big data), điện toán đám mây, công nghệ chuỗi khối (blockchain), rô-bốt thông minh và tự động hóa.... Xu thế chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, chuyển đổi năng lượng ngày càng được nhiều quốc gia quan tâm thúc đẩy. Khu vực châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục là trung tâm phát triển năng động, song cũng là khu vực trọng điểm cạnh tranh giữa các nước lớn. Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo tiếp tục có nhiều diễn biến phức tạp. Thách thức về biến đổi khí hậu, suy thoái môi trường, cạn kiệt tài nguyên, kể cả nguồn nước, thiên tai, dịch bệnh,… đều hằng ngày, hằng giờ tác động đến cuộc sống của người dân.

Tình hình trong nước có nhiều thuận lợi rất căn bản. Sau gần 40 năm Đảng ta lãnh đạo thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước đã đạt được nhiều thành tựu và uy tín quốc tế không ngừng được nâng lên. Kết quả này đã được đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định trong bài viết “Rạng rỡ Việt Nam”: “Đến nay, Việt Nam đã trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình, hội nhập sâu, rộng vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu, nền văn minh nhân loại, đảm nhiệm nhiều trọng trách quốc tế, phát huy vai trò tích cực tại nhiều tổ chức quốc tế, diễn đàn đa phương quan trọng. Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; lợi ích quốc gia, dân tộc được bảo đảm. Quy mô nền kinh tế năm 2024 đã đạt trên 470 tỉ USD, đứng thứ 32 thế giới và nằm trong nhóm 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài. Đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, hiện chỉ còn 1,93% (theo chuẩn đa chiều) so với mức 60% năm 1986. Tiềm lực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ, quốc phòng, an ninh không ngừng nâng cao”(11). Cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và sắp xếp lại đơn vị hành chính theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp bước đầu được triển khai hiệu quả.

Tuy nhiên, đất nước vẫn còn khó khăn, thách thức mà Đảng đã chỉ rõ: “Các yếu tố nền tảng như thể chế, hạ tầng, nguồn nhân lực chất lượng cao, công nghệ… còn thấp so với yêu cầu để đưa Việt Nam sớm trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại… Các vấn đề xã hội áp lực lớn đến phát triển kinh tế - xã hội như già hóa dân số, chênh lệch giàu - nghèo và trình độ phát triển. Thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, xâm nhập mặn ngày càng nhanh với cường độ mạnh, khó lường,...”(12).
Bối cảnh, tình hình trên đây sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến tư tưởng của các tầng lớp nhân dân, tác động đến kết quả, hiệu quả giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập của người dân, xóa đói, giảm nghèo, đến sự biến động cơ cấu lao động xã hội, xử lý vấn đề về môi trường, vệ sinh, an toàn thực phẩm, việc học hành, khám, chữa bệnh cho nhân dân, việc bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh với việc xuyên tạc thành tựu của Việt Nam về dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, hòng chia rẽ mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Kỷ nguyên mới đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ, giải pháp đồng bộ mới để tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Một số giải pháp chủ yếu sau đây cần được triển khai đồng bộ:
Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị và toàn xã hội để xây dựng, củng cố vững chắc mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân.
Đảng tiếp tục lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa, cụ thể hóa kịp thời quan điểm, đường lối của Đảng về phát huy quyền làm chủ của nhân dân, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; trước hết là chính sách để thực hiện cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Có kế hoạch, biện pháp làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục người dân nâng cao nhận thức về pháp luật, đồng thời tiếp tục tổ chức thực hiện hiệu quả một số luật đã ban hành liên quan trực tiếp đến người dân, như Bộ luật Lao động, Luật Trưng cầu ý dân, Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở, Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo… Định kỳ tiếp công dân, đối thoại với công dân và giải quyết kịp thời, đúng pháp luật đề xuất, kiến nghị chính đáng của công dân, không để xảy ra “điểm nóng”, khiếu kiện phức tạp, đông người kéo dài, gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội…

Cấp ủy tăng cường lãnh đạo, kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện các nghị quyết, quyết định, quy định của Đảng trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng; nhất là về những điều đảng viên không được làm, trách nhiệm nêu gương, chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc,… nhằm tạo sự chuyển biến thực sự về nhận thức, trách nhiệm và hành động của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt, người đứng đầu trước Đảng, trước nhân dân. Thông qua việc kiểm tra, giám sát thường xuyên để sớm phát hiện vướng mắc, khó khăn khi thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng nhằm nhanh chóng tháo gỡ, giải quyết cho cơ sở. Kịp thời biểu dương, khen thưởng tổ chức, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và phê bình, kỷ luật nơi không triển khai hoặc tổ chức thực hiện nghị quyết, quyết định, quy định của Đảng hiệu quả thấp…
Cấp ủy tăng cường giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt, người đứng đầu ở các ngành, các cấp sống gương mẫu, có trách nhiệm với dân, “nói đi đôi với làm” để nhân dân tin tưởng noi theo. Đặc biệt, tiếp tục đẩy mạnh triển khai việc “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, tạo sự chuyển biến trong cán bộ, đảng viên về phong cách “sâu sát cơ sở”, “gần gũi quần chúng”, “nói đi đôi với làm”, có lối sống trong sáng, tận tụy, trách nhiệm với công việc, nắm bắt và góp phần tham gia giải quyết kịp thời, đúng pháp luật đề xuất, kiến nghị chính đáng của nhân dân,…

Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận theo định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Trên cơ sở đánh giá, dự báo sát sao tình hình quốc tế, trong nước, nhất là nắm bắt vấn đề người dân quan tâm, liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân để Đảng định hướng đúng đắn các nhóm giải pháp lãnh đạo công tác dân vận. Quan tâm lãnh đạo xây dựng, củng cố tổ chức, bộ máy, đội ngũ cán bộ làm công tác tham mưu và trực tiếp thực hiện công tác dân vận; đồng thời, lãnh đạo bổ sung văn bản của Đảng, pháp luật của Nhà nước để phát huy vai trò, tính tích cực, chủ động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân… trong thực hiện nhiệm vụ được giao, nhất là công tác tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên, nhân dân.
Hai là, tăng cường công tác quản lý và điều hành của Nhà nước trong xây dựng mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân.
Thể chế hóa, cụ thể hóa kịp thời chủ trương, đường lối, quan điểm, nghị quyết của Đảng về công tác dân vận thành chính sách, thành văn bản pháp luật, chương trình, đề án, kế hoạch,… để tổ chức thực hiện. Tiếp tục đánh giá việc thể chế hóa năm quan điểm của Đảng tại Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 3/6/2013, của Hội nghị Trung ương 7 khóa XI “Về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới”, cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” để toàn dân thực hiện. Cụ thể hóa Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 16/6/2022, của Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”; Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 16/6/2022, của Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII “Về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trong giai đoạn mới”; Nghị quyết số 43-NQ/TW, ngày 24/11/2023, của Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII “Về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc”; Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 4/5/2025, của Bộ Chính trị “Về phát triển kinh tế tư nhân”;… yêu cầu Nhà nước tiếp tục thể chế hóa thành chính sách, pháp luật để toàn Đảng, toàn dân thực hiện.

Chính phủ và chính quyền các cấp huy động mọi nguồn lực để chỉ đạo, điều hành triển khai hiệu quả chủ trương, văn bản của Đảng, Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Bảo đảm nguồn lực để nâng cao tốc độ và chất lượng tăng trưởng, phát triển nhanh, bền vững kinh tế - xã hội, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Trên cơ sở đó không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho các tầng lớp nhân dân. Đây là giải pháp quan trọng nhất để củng cố, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân.
Cơ quan nhà nước các cấp tiếp tục phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hành dân chủ rộng rãi, nhất là dân chủ trực tiếp. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân là tạo sự đồng thuận xã hội, tạo sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, huy động mọi nguồn lực trong các tầng lớp nhân dân tốt hơn để thực hiện công cuộc đổi mới đất nước. Cơ quan nhà nước phải giải quyết kịp thời, đúng pháp luật đề xuất, kiến nghị chính đáng của công dân. Tuy nhiên, việc thực hành dân chủ phải luôn luôn gắn với “thượng tôn pháp luật”, đề cao kỷ luật, kỷ cương xã hội; kiên quyết đấu tranh với việc lợi dụng các quyền tự do dân chủ, đấu tranh với việc xuyên tạc kết quả thực hiện dân chủ nhằm chống phá Đảng, Nhà nước, khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Từ đầu năm 2025, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã hết sức quan tâm lãnh đạo việc sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, giảm tầng nấc trung gian, bảo đảm hiệu quả quản lý xã hội, kiến tạo phát triển, phục vụ nhân dân. Đặc biệt, từ ngày 1/7/2025, mô hình chính quyền địa phương hai cấp chính thức vận hành trên cả nước. Trên cơ sở đó, cần tiếp tục sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả gắn với đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng chính phủ số, giải quyết nhanh gọn công việc liên quan đến nhân dân, thực hiện dân chủ ở cơ sở theo luật định. Gắn phát triển kinh tế với bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, hệ sinh thái bảo đảm bền vững...

Dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, chính quyền và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Phát huy quyền làm chủ, tôn trọng ý kiến, sáng kiến, đóng góp của nhân dân trước khi ban hành và trong thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật. Tiếp tục bổ sung cơ chế để nhân dân tham gia giám sát việc tổ chức thực hiện đề án, dự án lớn, liên quan mật thiết đến đời sống, việc làm của người dân. Tạo điều kiện để nhân dân tham gia giám sát, góp ý cho cán bộ, đảng viên, nhất là trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và thực hành tiết kiệm.
Thứ ba, tăng cường trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân trong xây dựng mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động. Trong kỷ nguyên mới đòi hỏi Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên tổ chức hoạt động theo mô hình mới và chủ trương, chỉ thị, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư vừa được ban hành như: Chỉ thị số 48-CT/TW, ngày 24/6/2025, của Ban Chấp hành Trung ương “Về lãnh đạo Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhiệm kỳ 2026 - 2031”; Quy định số 301-QĐ/TW, ngày 9/6/2025 của Ban Bí thư “Quy định chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy Cơ quan Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, cấp xã”;... Các đoàn thể nhân dân tiếp tục thực hiện tốt vai trò là người đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đoàn viên, hội viên. Tập trung hướng về cơ sở, đa dạng hóa hình thức vận động, tập hợp các tầng lớp nhân dân phù hợp với trình độ dân trí và đặc điểm tình hình cụ thể của từng vùng, miền, địa phương,… Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền nghị quyết, quyết định, quy định của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư liên quan đến người dân, đồng thời làm tốt chức năng giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh. Tổ chức, động viên đoàn viên, hội viên, người dân tham gia phong trào thi đua yêu nước, cuộc vận động, huy động mọi nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội, qua đó góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân,…
.jpg)
Xây dựng đội ngũ cán bộ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ, xây dựng đội ngũ cán bộ có phong cách “gần dân, hiểu dân, học dân, trọng dân, có trách nhiệm với dân”; “nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin” và thực sự là “công bộc của nhân dân”. Kiện toàn, nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận về lý luận chính trị, nắm bắt tình hình thực tiễn, nghiệp vụ, kỹ năng tập hợp, vận động quần chúng, đáp ứng yêu cầu tổ chức, bộ máy mới khi thực hiện cuộc cách mạng về sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả dưới sự lãnh đạo của Đảng. Cán bộ dân vận phải nắm bắt dư luận xã hội, tổng hợp vấn đề người dân quan tâm, liên quan đến quyền, lợi ích chính đáng của người dân, nhất là đề xuất, kiến nghị chính đáng của nhân dân để tham mưu cho cấp ủy, chính quyền xử lý, giải quyết kịp thời, tuyệt đối không để xảy ra khiếu kiện phức tạp hay “điểm nóng”.
Sau khi sắp xếp, kiện toàn, tổ chức bộ máy Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội theo mô hình mới phải tạo được sự đồng thuận cao, xây dựng mối quan hệ phối hợp chặt chẽ để thực hiện tốt nhất nhiệm vụ chính trị trong thời kỳ mới.

Thứ tư, tăng cường trách nhiệm của nhân dân về xây dựng mối quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng.
Để phát huy tốt nhất quyền làm chủ, người dân thường xuyên đóng góp ý kiến đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước trên tinh thần xây dựng, vì lợi ích của Tổ quốc.
Trước hết, người dân, cử tri có trách nhiệm đóng góp ý kiến với Đảng, Nhà nước về chủ trương, chính sách, pháp luật trước khi ban hành chính thức; thường xuyên tham gia góp ý kiến về hoạt động của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, đại biểu dân cử do mình bầu ra, tham gia góp ý chương trình, đề án, dự án lớn liên quan đến đời sống của nhân dân; tham gia giám sát việc tổ chức thực hiện đề án, dự án cũng như giám sát phẩm chất, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên theo quy định của Đảng, Nhà nước.
Chấp hành, thực hiện nghiêm chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghĩa vụ công dân, thể hiện trong từng hoạt động, hành vi cụ thể, như tham gia giao thông, bảo vệ môi trường, bảo đảm an ninh, trật tự, phòng, chống cháy, nổ,… Mọi người dân đều bình đẳng trước pháp luật. Ngoài việc tự giác chấp hành, mỗi người dân còn có trách nhiệm tuyên truyền, động viên thành viên trong gia đình và cộng đồng dân cư cùng thực hiện; tham gia quản lý an ninh, trật tự, xây dựng nếp sống mới văn minh trên địa bàn dân cư; thực hiện quy chế, quy ước của cộng đồng vì lợi ích chung,…

Tăng cường trách nhiệm, nghĩa vụ công dân trong lao động, phát triển sản xuất, kinh doanh để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho gia đình, cộng đồng, đóng góp ngân sách nhà nước. Kinh tế - xã hội phát triển nhanh, bền vững phụ thuộc vào sự nỗ lực đóng góp của người dân thông qua hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình,…
Với công cuộc sắp xếp, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả” của Đảng ta; mỗi người dân, cơ quan, tổ chức phải đề cao trách nhiệm ủng hộ, đóng góp, xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh.
(1) V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2005, t. 35, tr. 64.
(2) V.I. Lênin: Toàn tập, Sđd, t. 44, tr. 426.
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t.10, tr. 453.
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 326.
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 634.
(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 3, tr. 168.
(7) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t. 21, tr. 695.
(8) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 96 - 97.
(9) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. II, tr. 249.
(10) Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 3-6-2013, của Hội nghị Trung ương 7 khóa XI “Về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới”.
(11) GS, TS Tô Lâm: Rạng rỡ Việt Nam, Tạp chí Cộng sản, số 1.055 (tháng 2-2025), tr. 5 - 6.
(12) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. II, tr. 92 - 93.


