Thời gian - Nguồn lực của sự phát triển
Câu chuyện một doanh nghiệp gần như “đắp chiếu” từ năm 2013, sau hơn 10 năm có thể phải bỏ ra gần 100 triệu đồng mới hoàn tất được thủ tục giải thể, đang được dư luận quan tâm trong những ngày qua. Từ đây, chúng ta băn khoăn về điều lớn hơn chuyện của một doanh nghiệp, là một ngày chậm, một tháng chậm, một năm chậm đã làm mất đi những gì? Và cuối cùng, ai phải trả giá cho sự chậm trễ?

Bùi Chí Kiên
(Ban Chính sách Chiến lược Trung ương)
*****************
Câu chuyện một doanh nghiệp gần như “đắp chiếu” từ năm 2013, sau hơn 10 năm có thể phải bỏ ra gần 100 triệu đồng mới hoàn tất được thủ tục giải thể, đang được dư luận quan tâm trong những ngày qua. Từ đây, chúng ta băn khoăn về điều lớn hơn chuyện của một doanh nghiệp, là một ngày chậm, một tháng chậm, một năm chậm đã làm mất đi những gì? Và cuối cùng, ai phải trả giá cho sự chậm trễ?
Trước hết, cần nhìn nhận công bằng, doanh nghiệp tham gia thị trường phải chịu trách nhiệm với các nghĩa vụ pháp lý, thuế, kế toán và đăng ký của mình. Ngừng kinh doanh trên thực tế không đồng nghĩa với việc pháp nhân tự động chấm dứt. Kỷ cương pháp luật phải được giữ vững để bảo đảm bình đẳng giữa doanh nghiệp tuân thủ và chủ thể vi phạm.
Tuy nhiên, nhìn từ góc độ quản trị quốc gia, câu chuyện không nên dừng lại ở việc “ai sai”. Câu hỏi quan trọng hơn là hệ thống có khả năng nhận diện, cảnh báo và xử lý một vấn đề từ khi nó còn nhỏ hay không. Một doanh nghiệp ngừng hoạt động nhiều năm mà nghĩa vụ chưa được xác định dứt điểm; một hồ sơ không được giải quyết đến cùng; một dữ liệu đã có nhưng người dân vẫn phải cung cấp lại; một việc thuộc thẩm quyền nhưng phải xin ý kiến vòng qua nhiều cấp... mỗi trường hợp riêng lẻ có thể không lớn nhưng hàng nghìn, hàng vạn trường hợp cộng lại sẽ tạo thành “nợ hành chính” của nền kinh tế.

Đáng chú ý, Báo Tuổi Trẻ dẫn số liệu cho thấy cả nước có khoảng 292.000 đơn vị đã ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn tất thủ tục giải thể, hơn 325.000 doanh nghiệp không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký. Dù các con số này cần được hiểu đúng theo phương pháp thống kê và không đồng nghĩa tất cả đều do cơ quan Nhà nước chậm xử lý, chúng vẫn cho thấy quy mô của bài toán doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường cần được nhìn nhận nghiêm túc. Đây chính là điểm cần mở rộng từ câu chuyện cụ thể thành vấn đề của nền hành chính phục vụ, rằng, thời gian của người dân và doanh nghiệp cũng là một dạng nguồn lực xã hội.
Tại Hội nghị toàn quốc ngày 3/9/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Thời gian là một nguồn lực phát triển không thể tái tạo. Chậm thể chế hóa, chậm quyết định, chậm tháo gỡ điểm nghẽn là tăng chi phí, mất cơ hội. Việc đã rõ phải làm ngay; vướng mắc phải xử lý từ sớm”. Đây không chỉ là một thông điệp về tốc độ mà là yêu cầu mới đối với tư duy quản trị. Nếu vốn được coi là nguồn lực, phải quản lý để vốn không bị nhàn rỗi; nếu đất đai là nguồn lực, phải sử dụng hiệu quả; nếu dữ liệu là nguồn lực mới, phải bảo đảm dữ liệu được kết nối và khai thác. Vậy, thời gian của xã hội cũng phải được bảo vệ như một nguồn lực phát triển.
Một doanh nghiệp phải chờ thêm một tháng để hoàn tất một thủ tục có thể mất một tháng cơ hội kinh doanh. Một dự án chậm quyết định có thể mất một mùa đầu tư. Một nhà đầu tư phải đi lại nhiều lần có thể chuyển sang địa phương khác. Một cán bộ phải dành nhiều ngày để hoàn thiện những giấy tờ mà hệ thống đã có dữ liệu là thời gian không tạo thêm giá trị công. Do đó, cải cách hành chính không nên chỉ đo bằng số lượng thủ tục được cắt giảm mà cần chuyển mạnh sang đo bằng thời gian xã hội được trả lại, chi phí thực tế được giảm và cơ hội phát triển được mở ra.

Đất nước đã có những bước tiến đáng kể như chương trình cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến sản xuất, kinh doanh đặt mục tiêu năm 2026 cắt giảm 50% thời gian giải quyết và 50% chi phí tuân thủ thủ tục hành chính so với năm 2024, đồng thời, hướng tới việc doanh nghiệp chỉ cung cấp thông tin, giấy tờ một lần và các thủ tục đủ điều kiện được thực hiện trực tuyến toàn trình. Đến cuối năm 2025, 14 bộ, cơ quan ngang bộ đã trình phương án cắt giảm, đơn giản hóa 3.085/4.888 thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, tương đương 63,1%; đồng thời cắt giảm 2.371/6.974 điều kiện kinh doanh, tương đương 33,9%.
Tuy nhiên, Chính phủ cũng thẳng thắn chỉ ra việc sửa đổi văn bản để thực thi các phương án đã được phê duyệt còn chậm. Điều đó cho thấy, vấn đề quan trọng là cải cách chỉ hoàn thành khi người dân và doanh nghiệp thực sự nhận được kết quả nhanh hơn, đơn giản hơn và ít tốn kém hơn. Nền hành chính hiện đại cần thay đổi cách đánh giá công việc. Không thể chỉ hỏi cán bộ “Hồ sơ đã được tiếp nhận chưa?”, mà phải hỏi “Hồ sơ đã được giải quyết đến đâu, còn vướng ở đâu, ai chịu trách nhiệm và khi nào có kết quả cuối cùng?”. Không thể chỉ đánh giá một cơ quan bằng số lượng văn bản đã ban hành, mà phải đánh giá bằng số điểm nghẽn đã được tháo gỡ, số ngày đã được rút ngắn, số chi phí đã được cắt giảm và mức độ hài lòng thực chất của người dân, doanh nghiệp.
Nói cách khác, cần chuyển từ “quản lý quy trình” sang “quản trị kết quả”, thông điệp này phù hợp với yêu cầu mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt ra tại Hội nghị toàn quốc ngày 3/9: Công việc phải có người chịu trách nhiệm; việc mới, khó phải được thí điểm có kiểm soát; dữ liệu phải “đúng, đủ, sạch, sống”; cán bộ phải được đánh giá bằng kết quả, người né tránh, đùn đẩy, làm việc cầm chừng phải được sàng lọc. Từ đó, có thể hình thành một chuẩn mực rất giản dị nhưng có sức thay đổi lớn: Làm đúng - làm nhanh - làm đến cùng - chịu trách nhiệm về kết quả. “Làm đúng” để không tùy tiện; “Làm nhanh” để không làm mất thời gian và cơ hội của xã hội; “Làm đến cùng” để không đẩy phần việc của mình sang cơ quan khác hoặc sang người dân; “Chịu trách nhiệm về kết quả” để không ai có thể hoàn thành nhiệm vụ chỉ bằng cách chuyển một tập hồ sơ từ bàn này sang bàn khác.
Điều đáng suy nghĩ nhất từ câu chuyện giải thể doanh nghiệp không phải làm thế nào để miễn một khoản tiền phạt cụ thể mà là làm thế nào để doanh nghiệp không rơi vào tình trạng “đắp chiếu” hơn 10 năm mà không có cơ chế cảnh báo, hướng dẫn và xử lý. Có thể hình dung quy trình mới theo hướng: Khi doanh nghiệp ngừng hoạt động, hệ thống dữ liệu tự động nhận diện trạng thái; cơ quan quản lý gửi cảnh báo nghĩa vụ còn thiếu; doanh nghiệp được hướng dẫn một lần về toàn bộ việc phải hoàn thành; các cơ quan thuế, đăng ký doanh nghiệp và các cơ quan liên quan chia sẻ dữ liệu; hồ sơ có một đầu mối chịu trách nhiệm theo dõi đến khi kết thúc. Nghĩa là thay vì để một vấn đề nhỏ tích tụ thành “cục nợ” lớn, hệ thống sẽ xử lý từ sớm, từ xa, từ khi chi phí còn thấp. Đây cũng là hướng mà Chính phủ đã yêu cầu đẩy mạnh kết nối cơ sở dữ liệu, giảm giấy tờ, không yêu cầu doanh nghiệp cung cấp lại những thông tin Nhà nước đã có và hoàn thành các thủ tục liên quan đến doanh nghiệp theo hướng trực tuyến, thông suốt, liền mạch.
Trong kỷ nguyên tăng trưởng và cạnh tranh quốc tế quyết liệt, Việt Nam không thể chấp nhận một nền kinh tế phát triển nhanh nhưng một số quy trình hành chính vẫn vận hành theo nhịp độ cũ. Tăng trưởng hai con số đòi hỏi không chỉ thêm vốn, thêm công nghệ, thêm hạ tầng, mà còn phải giảm thời gian chết, giảm chi phí chờ đợi và tăng tốc độ ra quyết định. Có như vậy, cải cách hành chính mới trả lại thời gian, chi phí và cơ hội phát triển cho người dân, doanh nghiệp và cho chính nền kinh tế.


