Thức quà từ những căn bếp đỏ lửa
Với những nguyên liệu như gạo tẻ, lá dong và phần nhân thịt đậm đà, người dân làng Quỳnh Viên đã làm nên những chiếc bánh lá mang hương vị riêng. Từ món bánh quen thuộc trên mâm cúng, phiên chợ quê, sản phẩm nay đã theo những chuyến xe vào Nam, ra Bắc, mở rộng thị trường cho một nghề truyền thống hàng trăm năm tuổi...

Thanh Phúc | Thiết kế: Hữu Quân • 24/09/2024

Có những ngôi làng được người ta nhớ đến bởi một dòng sông, một mái đình hay một phiên chợ quê. Riêng với làng Quỳnh Viên, xã Quỳnh Văn, điều neo giữ bao thế hệ người con xa quê lại là hương thơm của những chiếc bánh lá lan tỏa mỗi độ sớm mai. Thứ hương thơm mộc mạc của gạo mới, lá dong và nhân bánh đã trở thành một phần ký ức, một phần nếp sống của người dân nơi đây, để mỗi khi nhắc đến Quỳnh Viên, người ta lại nhắc đến chiếc bánh lá đậm vị quê.
Sinh ra và lớn lên ở làng Quỳnh Viên, đến nay vẫn gắn bó với quê hương trên cương vị cán bộ địa phương, anh Nguyễn Bá Trinh gần như thuộc lòng câu chuyện của nghề bánh lá. Nhà anh không làm bánh, nhưng suốt tuổi thơ, anh lớn lên cùng nhịp sống của một làng nghề, nơi cứ khoảng hai, ba giờ sáng, ánh lửa từ những căn bếp đã bập bùng khắp xóm. Tiếng xay bột, tiếng quấy bột, tiếng người gọi nhau chuẩn bị hàng ra chợ đã trở thành âm thanh quen thuộc của làng quê trước lúc bình minh.

Theo anh Trinh, nghề làm bánh lá ở Quỳnh Viên đã có từ hàng trăm năm trước. Ban đầu, bánh được làm để dâng cúng Thành hoàng trong các dịp lễ hội của làng, rồi dần trở thành món ăn không thể thiếu trên mâm cúng ngày rằm, mùng Một, lễ, Tết và những ngày giỗ chạp. Theo thời gian, chiếc bánh bước ra khỏi không gian tín ngưỡng để hiện diện trong đời sống thường nhật. Người đi chợ mua vài chiếc bánh ăn sáng, người đi xa mang bánh làm quà, còn khách phương xa tìm đến Quỳnh Viên cũng muốn thưởng thức thứ bánh mang đậm hương vị đồng quê. Dẫu vai trò có thay đổi theo năm tháng, chiếc bánh vẫn luôn là sợi dây kết nối con người với quê hương và gìn giữ những phong tục đã bền bỉ qua nhiều thế hệ.

.jpg)
Điều làm nên nét riêng của bánh lá Quỳnh Viên lại bắt đầu từ chính những nguyên liệu bình dị nhất. Gạo tẻ được ngâm vừa độ để cho lớp bột trắng mịn; lá dong nếp được lựa chọn kỹ càng nhằm giữ màu xanh và hương thơm đặc trưng; phần nhân chỉ gồm thịt ba chỉ, mộc nhĩ, hành củ, hành lá, hạt tiêu... Tất cả đều là những sản vật quen thuộc của làng quê, nhưng qua bàn tay khéo léo của người dân lại tạo nên một hương vị không dễ trộn lẫn. Bóc lớp lá dong còn nóng hổi, mùi thơm của gạo quyện với vị béo của nhân bánh lan tỏa, gợi cảm giác mộc mạc mà ấm áp như chính con người vùng đất này.
Có lẽ vì được sinh ra từ những gì gần gũi nhất của đồng quê nên bánh lá Quỳnh Viên chưa bao giờ chỉ là một món ăn. Trong từng nếp lá còn có ký ức về những mùa lễ hội, những ngày giỗ Tết, những phiên chợ quê và cả nhịp sống của một làng nghề đã tồn tại hàng trăm năm. Chính giá trị văn hóa ấy đã giúp chiếc bánh vượt qua giới hạn của một thức quà dân dã để trở thành biểu tượng của quê hương trong tâm thức nhiều người con làng Quỳnh Viên...


Đằng sau sự tồn tại của nghề bánh lá Quỳnh Viên suốt hàng trăm năm là những người phụ nữ lặng lẽ giữ nghề bằng đôi tay cần mẫn. Họ không chỉ làm ra sản phẩm phục vụ nhu cầu hằng ngày, mà còn góp phần giữ lại một nét văn hóa của làng quê.
Hai giờ sáng. Trong căn bếp nhỏ của gia đình chị Nguyễn Thị Xuân, công việc đã bắt đầu. Khi ngoài đường làng vẫn còn vắng bóng người qua lại, chị đã kiểm tra nồi bột, chuẩn bị nhân bánh, lau từng tàu lá dong rồi thoăn thoắt gói từng chiếc bánh.



Nghề làm bánh lá không cho phép người làm vội vàng. Từ chiều hôm trước, lá dong đã được lựa chọn, rửa sạch, để ráo nước. Gạo tẻ được vo kỹ, ngâm đủ thời gian rồi đem xay thành bột. Trước đây, người dân Quỳnh Viên chủ yếu xay bột bằng cối đá. Mỗi mẻ bột là cả một quá trình tốn nhiều công sức. Ngày nay, máy móc đã thay thế phần việc nặng nhọc ấy, nhưng kinh nghiệm của người làm nghề vẫn là yếu tố quyết định chất lượng chiếc bánh. “Người ngoài nhìn vào chỉ thấy tôi quấy bột, nhưng người trong nghề thì biết đây là công đoạn quyết định bánh ngon hay không. Bột non quá thì bánh sượng, già lửa quá lại mất độ mềm dẻo. Phải nhìn màu bột, cảm nhận độ sánh, độ đàn hồi mới biết khi nào đạt”, chị Xuân chia sẻ.

Trong lúc nói chuyện, đôi tay chị vẫn liên tục khuấy đều nồi bột trên bếp lửa. Đôi đũa cả đảo đều để bột chín, không bị vón cục, không bén đáy nồi. Khi bột chuyển sang màu trắng sữa, sánh mịn nhưng vẫn giữ độ dẻo, chị nhanh tay nhấc xuống, chờ nguội rồi mới bắt đầu gói bánh. Công đoạn gói bánh tưởng đơn giản nhưng cũng đòi hỏi sự khéo léo. Lá dong được trải ra, bột được dàn đều, nhân được đặt vừa đủ rồi gấp lá. Người làm lâu năm chỉ cần nhìn bằng mắt, chạm bằng tay là biết chiếc bánh đã đạt yêu cầu hay chưa. Theo những người làm nghề, một chiếc bánh ngon phải có sự cân bằng giữa phần bột và nhân. Bột dày quá khiến bánh dễ ngấy, mỏng quá lại không giữ được độ chắc. Cái “vừa đủ” ấy không có trong một công thức cụ thể mà nằm ở kinh nghiệm tích lũy qua nhiều năm.

Cách đó không xa, cơ sở làm bánh lá của chị Nguyễn Thị Giang và chị Đào Thị Tâm cũng sáng đèn từ nửa đêm. Những ngày bình thường, gia đình chị làm khoảng 1.000 chiếc bánh. Vào mùa cưới hỏi, lễ, Tết hoặc những dịp nhiều cỗ bàn, sản lượng có thể tăng gấp đôi, gấp ba. Trong căn bếp, mỗi người một việc. Người chuẩn bị nguyên liệu, người quấy bột, người gói bánh, người xếp bánh vào nồi hấp. Công việc nối tiếp nhau trong sự phối hợp nhịp nhàng của các thành viên trong gia đình và những người thân quen. Với người dân Quỳnh Viên, nghề bánh không chỉ đem lại thu nhập mà còn là sợi dây gắn kết cộng đồng. Sau mỗi mẻ bánh là sự góp sức của nhiều đôi bàn tay, là hình ảnh quen thuộc của những người dân quê vẫn giữ cách sống “tối lửa tắt đèn có nhau”.

Nếu trước đây bánh lá Quỳnh Viên chủ yếu xuất hiện trong các phiên chợ quê, mâm cúng gia đình hay theo chân người dân làm quà biếu, thì nay chiếc bánh ấy đã có một hành trình mới. Việc được công nhận là làng nghề vào năm 2023 tạo thêm điều kiện để nghề bánh lá Quỳnh Viên được gìn giữ, phát triển và từng bước tiếp cận thị trường rộng hơn. Không chỉ là món ăn truyền thống của một làng quê, bánh đã trở thành sản phẩm hàng hóa được đầu tư bài bản hơn, đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng hiện đại.

Sự thay đổi rõ nét nhất là trong khâu bảo quản và tiêu thụ. Trước đây, bánh chủ yếu bán trong ngày do thời gian bảo quản ngắn. Nay, nhiều cơ sở đã đầu tư máy hút chân không, áp dụng phương pháp cấp đông, đóng gói sản phẩm cẩn thận để kéo dài thời gian sử dụng. Những chiếc bánh sau khi hấp chín được làm nguội, bảo quản theo quy trình phù hợp rồi theo các đơn hàng đến với khách hàng ở Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Hà Nội và nhiều tỉnh, thành khác. Với người xa quê, việc thưởng thức lại chiếc bánh lá quê nhà không còn phụ thuộc vào những chuyến về quê. Chỉ cần hấp nóng lại khoảng 20 phút, chiếc bánh vẫn giữ được độ dẻo thơm, vị đậm đà như vừa ra khỏi bếp.
Từ những căn bếp trong làng, bánh lá Quỳnh Viên ngày nay đã có mặt ở nhiều vùng đất khác. Hơn 40 hộ vẫn duy trì sản xuất, làm ra hàng triệu chiếc bánh mỗi năm, tạo việc làm và thu nhập cho hàng trăm lao động. Những con số ấy cho thấy sức sống của một sản vật tưởng như giản dị nhưng đã trở thành sinh kế của nhiều gia đình.

Con đường phía trước của bánh lá Quỳnh Viên còn nhiều việc phải làm, từ chuẩn hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng đến mở rộng thị trường. Nhưng trong hành trình ấy, người làm bánh vẫn giữ lại những điều làm nên bản sắc của sản phẩm: kinh nghiệm được truyền qua nhiều thế hệ, đôi bàn tay khéo léo và những bếp củi đỏ lửa từ lúc trời chưa sáng. Để rồi, mỗi chiếc bánh theo chuyến xe rời Quỳnh Viên không chỉ mang theo một món quà quê, mà còn mang theo câu chuyện của một nghề đang được người dân nơi đây bền bỉ giữ gìn và tìm cách đi xa.


