Tin vào “giai đoạn tăng trưởng kỳ diệu” của Việt Nam
Phóng viên Báo và phát thanh, truyền hình Nghệ An trò chuyện với Giáo sư Trần Văn Thọ (Đại học Waseda, Tokyo, Nhật Bản) để cùng nhìn lại chặng đường hơn 3 thập kỷ kể từ khi ông lần đầu bày tỏ suy nghĩ về nguy cơ tụt hậu của Việt Nam, đồng thời, phân tích những thách thức mới mà nền kinh tế Việt Nam đang đối diện.

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam bước sang giai đoạn mới với nhiều tín hiệu tăng trưởng tích cực, câu chuyện phát triển không còn dừng lại ở những con số, mà đặt ra yêu cầu ngày càng rõ nét về chất lượng, chiều sâu và tính bền vững. Phóng viên Báo và phát thanh, truyền hình Nghệ An trò chuyện với Giáo sư Trần Văn Thọ (Đại học Waseda, Tokyo, Nhật Bản) để cùng nhìn lại chặng đường hơn 3 thập kỷ kể từ khi ông lần đầu bày tỏ suy nghĩ về nguy cơ tụt hậu của Việt Nam, đồng thời, phân tích những thách thức mới mà nền kinh tế Việt Nam đang đối diện.
Phương Chi (Thực hiện) | Thiết kế: Hữu Quân
• 11/02/2026
* * *
P.V: Thưa Giáo sư, năm 1995, trong bài viết “Suy nghĩ về nguy cơ tụt hậu” đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn, ông từng đặt vấn đề Việt Nam đi sau Thái Lan khoảng 25 năm. Hơn 30 năm sau, kinh tế Việt Nam hiện được báo Nikkei (Nhật Bản) đánh giá tích cực, thậm chí dự báo có thể vượt Thái Lan về quy mô GDP vào năm 2026. Ở thời điểm này, theo ông, Việt Nam đã thực sự thoát khỏi nguy cơ tụt hậu hay mới chỉ vượt lên về con số? Và nếu nguy cơ mới không còn là tụt hậu về tốc độ, thì thách thức lớn nhất của Việt Nam hiện nay là gì?
GS Trần Văn Thọ: Theo tiêu chuẩn của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam đạt mức phát triển trung bình thấp năm 2010 và trung bình cao vào cuối năm 2025 hoặc trễ hơn thì cũng trong năm 2026. Với thành quả này, Việt Nam đã rút ngắn khoảng cách phát triển rất đáng kể với các nước chung quanh. Chẳng hạn, so với Thái Lan, GDP đầu người của Việt Nam vào năm 1993 chỉ bằng 13% của Thái Lan, nhưng năm 2024 Việt Nam đạt 4.700 USD, gần bằng 60% của nước này. Với tiền đề tốc độ tăng trưởng gần đây của 2 nước sẽ tiếp tục, độ 7-8 năm nữa Việt Nam sẽ theo kịp Thái Lan cả về thu nhập đầu người.

Nhiều chỉ tiêu khác cũng cho thấy Việt Nam rút ngắn khoảng cách đáng kể với Thái Lan. Chẳng hạn, chỉ số phát triển nguồn nhân lực năm 1990 của Việt Nam là 0.472 - thấp xa so với Thái Lan là 0.715, nhưng đến năm 2023 thì 2 chỉ số đó rất gần nhau, 0.766 và 0.798. Về tuổi thọ trung bình, năm 1990, Việt Nam kém Thái Lan 3,4 tuổi, nhưng gần đây giảm còn 1,7 tuổi.
“Tụt hậu” là một khái niệm tương đối, tùy theo ta so sánh mình với ai. Khác với thập niên 1990 khi Việt Nam còn là nước nghèo, thu nhập thấp, ngày nay ta đã trở thành quốc gia thu nhập trung bình cao, như vậy là đã khắc phục nguy cơ tụt hậu đối với nhiều nước trên thế giới. Hiện nay, Việt Nam đã đưa ra mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045. Nếu không đạt mục tiêu này thì ta sẽ tụt hậu so với các nước tiên tiến. Do đó, thách thức lớn nhất của Việt Nam là làm sao tăng năng suất để phát triển hiệu suất với tốc độ cao, thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình, đạt mục tiêu năm 2045.

P.V: Việt Nam hiện đang đặt mục tiêu tăng trưởng 2 con số. Gần đây, trên truyền thông, Giáo sư cũng bày tỏ niềm tin rằng, Việt Nam hoàn toàn có thể bước vào giai đoạn tăng trưởng ở mức này, qua đó, tiến gần hơn tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao sớm hơn dự kiến. Những cơ sở nào để ông đưa ra nhận định và niềm tin đó?
GS Trần Văn Thọ: Dư địa để Việt Nam tăng năng suất với tốc độ cao là rất lớn. Với tiền đề tiến hành ngay các cải cách cần thiết và có các chính sách thích hợp trong 4-5 năm tới thì tăng trưởng 2 con số có thể thực hiện trong thập niên 2030.
Để phát triển nhanh và có hiệu suất, phải tăng năng suất tổng hợp là năng suất không chỉ dựa trên đổi mới sáng tạo mà còn tùy thuộc vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng quy mô đầu tư, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao và cải cách thể chế để các nguồn lực, nhất là vốn, di chuyển đến những lĩnh vực có giá trị gia tăng cao.
Cụ thể, có thể tóm tắt 4 lĩnh vực cần cải cách và có các chính sách thích hợp.
Một là, đẩy mạnh công nghiệp hóa theo hướng thâm sâu (phát triển công nghiệp hỗ trợ), thoát khỏi mô hình gia công, lắp ráp hiện nay và mở rộng sang các ngành mới, có hàm lượng công nghệ, hàm lượng kỹ năng cao.




.jpg)

Hai là, cải cách thể chế và đẩy mạnh phát triển khu vực kinh tế tư nhân, chuyển thành phần cá thể, manh mún, nhỏ bé thành những doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) có tổ chức, hỗ trợ SME lớn mạnh hơn và kết nối với doanh nghiệp hiện nay cũng như với doanh nghiệp có vốn nước ngoài (FDI). Đối với những doanh nghiệp lớn hiện nay, Nhà nước tạo cơ chế và khuyến khích đầu tư nhiều hơn cho nghiên cứu và triển khai (R&D) và cùng phác họa, chia sẻ tầm nhìn về hướng đi tương lai của nền kinh tế. Nói chung, doanh nghiệp phải lớn mới tăng quy mô đầu tư và đổi mới sáng tạo, điều kiện để tăng năng suất.
Ba là, phát triển nguồn nhân lực. Đây là yếu tố then chốt giúp dịch chuyển cơ cấu công nghiệp và đáp ứng nhu cầu khi cơ cấu doanh nghiệp chuyển theo hướng tăng quy mô nói trên. Trước mắt, vừa nâng cao chất lượng lao động trong công nghiệp, vừa đào tạo lao động nông nghiệp để có kỹ năng cần thiết mới chuyển sang làm việc trong khu vực công nghiệp. Mặt khác, nếu cơ cấu doanh nghiệp thay đổi theo hướng đã phân tích, phần lớn lao động đang làm việc trong khu vực kinh tế tư nhân phải được đào tạo hoặc đào tạo lại theo hướng tăng kỹ năng, tăng chất lượng để đáp ứng nhu cầu mới của doanh nghiệp.
.jpg)
Bốn là, cải cách thị trường các yếu tố sản xuất như vốn, đất đai, lao động, để các nguồn lực này, qua cơ chế thị trường, di động đến những lĩnh vực có hiệu quả, có năng suất cao nhất. Đặc biệt, thị trường vốn cần cải thiện mạnh mẽ.
Theo tôi, chúng ta cần nỗ lực tối đa thực hiện 4 chính sách và cải cách nói trên để chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thay đổi thể chất doanh nghiệp nhằm tăng nhanh năng suất lao động, kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng nhanh, kể cả khả năng tăng trưởng 2 con số vào thập niên 2030. Mục tiêu thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045 sẽ đạt được.
P.V: Trong tổng thể mục tiêu tăng trưởng của quốc gia, theo Giáo sư, các địa phương cần tiếp cận và nâng cao năng lực thực thi như thế nào để có thể tạo đột phá, bứt tốc hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong thời gian tới?
GS Trần Văn Thọ: Chuyển động địa kinh tế chính trị thế giới là thách thức vì tăng rủi ro nhưng cũng đang tạo ra thời cơ cho Việt Nam. Doanh nghiệp nước ngoài tiếp tục chọn Việt Nam là cứ điểm sản xuất quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu của họ. Các địa phương nên tích cực đón thời cơ để đưa địa phương mình phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới.

Cụ thể là cố gắng xây dựng hạ tầng cứng và mềm vượt trội so với nhiều địa phương khác trong và ngoài nước. Đầu tư thích đáng vào vài khu công nghệ cao, khu công nghiệp có tính chiến lược, ưu tiên cung cấp đầy đủ các dịch vụ thiết yếu từ điện, nước đến các hạ tầng về thông tin. Nhân viên phụ trách trong bộ máy hành chính liên quan đến công tác thu hút đầu tư nói chung và khu công nghiệp nói riêng phải chuyên nghiệp về kỹ năng chuyên môn, ngoại ngữ và hiểu biết tập quán quốc tế.
Ngoài ra, môi trường đầu tư của doanh nghiệp không chỉ giới hạn ở hạ tầng phần cứng và phần mềm mà bao gồm cả tình hình xã hội, cảnh quan và văn hóa của địa phương. Để thu hút những dự án lớn từ các doanh nghiệp đa quốc gia phải có môi trường sống, môi trường văn hóa hấp dẫn, có bệnh viện tốt (có dịch vụ y tế tiên tiến, có bác sĩ thông thạo ngoại ngữ..), có trường quốc tế cho trẻ em nước ngoài.

Bên cạnh đó, an ninh thành phố, an toàn giao thông, văn hóa của thị dân cũng là những yếu tố quan trọng. Một thành phố như vậy cũng giúp quy tụ nhân tài đến từ các nơi khác và trở thành yếu tố để doanh nghiệp nước ngoài đến đầu tư. Dĩ nhiên xây dựng địa phương mình thành nơi lý tưởng không phải chỉ để thu hút nhân tài và các doanh nghiệp đến đầu tư mà còn để nâng cao mức sống vật chất và văn hóa của thị dân.
P.V: Nhìn dài hạn tới năm 2045, ông đã nói về viễn cảnh Việt Nam cần một “giai đoạn tăng trưởng kỳ diệu” kéo dài. Nhưng thiết nghĩ, điều đó không chỉ là con số GDP. Ông hình dung Việt Nam sẽ có “đỉnh cao mới” nào về chất lượng sống, học thuật và sáng tạo vào năm ấy?
GS Trần Văn Thọ: Đúng là không thể chỉ tăng trưởng về số lượng. Chất lượng phát triển, chất lượng cuộc sống của người dân, phát triển trong hài hòa với xã hội và thiên nhiên, làm cho người dân sung túc cả vật chất và tinh thần, đời sống văn hóa ngày càng nâng cao và an tâm về tương lai phải là mục tiêu quan trọng của phát triển.
Cụ thể, Việt Nam nên vừa phát triển nhanh, vừa bảo vệ môi trường, ban hành các chính sách, luật pháp cần thiết liên quan hoạt động đầu tư của doanh nghiệp, khuyến khích du nhập, áp dụng công nghệ thân thiện với môi trường. Vấn đề liên quan và lớn hơn là chính sách cổ xúy cho việc thực hiện nền kinh tế tuần hoàn (circular economy), trong đó, khuyến khích tái sử dụng, tái chế sản phẩm, giảm chất thải trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng. Nhà nước cần khẩn trương hoàn thiện thể chế, chính sách; doanh nghiệp cần đưa yếu tố tuần hoàn vào chiến lược kinh doanh; người dân cần ý thức góp phần tiết kiệm tài nguyên, giảm chất thải trong hành vi tiêu dùng.

Vấn đề tiếp theo và quan trọng liên quan cuộc sống và hạnh phúc của người dân. Tăng trưởng kinh tế cuối cùng phải vì mục đích đó. Để thực hiện, cần đặt trọng tâm vào các vấn đề sau.
Thứ nhất, thực hiện toàn dụng lao động. Tăng trưởng cao tạo điều kiện để dễ có toàn dụng lao động. Nhưng trong thời đại phát triển của công nghệ thông tin, của tự động hóa, việc toàn dụng lao động không dễ thực hiện. Cần đầu tư nâng cao trình độ kỹ năng, bảo đảm năng lực tối thiểu về kỹ thuật số (digital minimum) cho mọi lao động để họ dễ tìm việc làm. Trong dài hạn, có thể phải nghĩ đến việc khuyến khích chia sẻ công việc (work-sharing), trong đó, người có công việc có thể làm ít lại (để có nhiều thì giờ nghỉ ngơi, giải trí, tiêu khiển văn hóa và chăm sóc gia đình) và dành một phần công việc cho người khác.
Thứ hai, chính sách bao trùm hiệu quả nhất là triệt để đầu tư cho giáo dục, tạo cơ hội bình đẳng trong việc tiếp cận dịch vụ giáo dục cho tất cả mọi người, miễn phí không chỉ bậc tiểu học và trung học cơ sở, mà mở rộng tới trung học phổ thông, để cho mọi gia đình dù thu nhập còn thấp vẫn có điều kiện cho con em học tập tốt. Một vấn đề nữa là dịch vụ y tế. Nhà nước cần đầu tư thích đáng cho bệnh viện và các cơ sở y tế khác, nhất là ở nông thôn để mọi người dân đều tiếp cận dễ dàng với dịch vụ này.



Thứ ba, xây dựng các chế độ, chính sách để mọi người dân an tâm về tương lai cũng là một lĩnh vực quan trọng. Điểm này liên quan đến chế độ lương hưu và bảo hiểm thất nghiệp là những lĩnh vực Việt Nam chưa làm tốt. Số người có bảo hiểm thất nghiệp hiện nay chiếm chưa tới 30% trong tổng lao động, một tỷ lệ quá thấp, cần được quan tâm cải thiện. Phổ cập chế độ lương hưu đến mọi người dân cũng là một thách thức không nhỏ.
Thứ tư, tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao trong thời gian tới nên dựa nhiều hơn vào nội nhu, trong đó, chi tiêu cá nhân đóng vai trò chính. Tăng trưởng kinh tế theo hướng toàn dụng lao động như đã đề cập sẽ tăng thu nhập cho mọi người dân và là cơ sở để tăng chi tiêu cá nhân. Qua thu nhập và chi tiêu, người dân sẽ cảm thấy ngày càng sung túc trong quá trình tăng trưởng.

Mục tiêu năm 2045 là đưa nước Việt Nam thành quốc gia tiên tiến, thu nhập cao. Quốc gia tiên tiến không chỉ xét theo thu nhập đầu người - một chỉ tiêu về dân giàu, nước mạnh, mà phải dân chủ, văn minh nữa. Mở rộng dân chủ, bảo đảm tự do ngôn luận cho người dân, triệt để bài trừ tham nhũng, xây dựng xã hội công bằng cũng là những tiêu chí quan trọng của một quốc gia tiên tiến. Ngoài ra, trình độ học thuật, khoa học tiến gần các nước tiên tiến hiện nay cũng là mục tiêu Việt Nam cần đạt được vào năm 2045. Để được như vậy, cần đầu tư thích đáng cho khoa học ngay từ bây giờ.

P.V: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng được nhìn nhận là dấu mốc lịch sử quan trọng, hội tụ ý chí, trí tuệ và khát vọng phát triển của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, đồng thời, mở ra kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Từ góc nhìn của mình, Giáo sư có những gợi mở gì để Nghị quyết của Đại hội sớm được cụ thể hóa và đi vào cuộc sống?
GS Trần Văn Thọ: Các quyết định tại Đại hội lần thứ XIV của Đảng là quan trọng để Việt Nam phát triển nhanh trong giai đoạn tới. Để biến các Nghị quyết thành các chính sách cụ thể và thực hiện nhanh chóng các chính sách, điều quan trọng nhất là bộ máy Nhà nước ở Trung ương và địa phương phải chuyển động nhanh và ý thức, trách nhiệm của quan chức thừa hành phải cao. Cho đến nay, đây là 2 điểm nghẽn lớn. Cần quan tâm cải cách, cải thiện ngay 2 vấn đề này.
P.V: Trân trọng cảm ơn Giáo sư Trần Văn Thọ!
Ông Trần Văn Thọ (SN 1949) là giáo sư danh dự tại Đại học Waseda, Tokyo (Nhật Bản); được nhận Huân chương Thụy Bảo Tia Vàng của Chính phủ Nhật Bản. Ông là thành viên Tổ Tư vấn kinh tế của nhiều Thủ tướng Việt Nam. Giáo sư Trần Văn Thọ đã xuất bản nhiều sách về kinh tế tại Nhật và Việt Nam, trong đó, 1 cuốn được giải Châu Á - Thái Bình Dương (Nhật Bản) và 5 cuốn được giải Sách Hay (Việt Nam). Một số sách xuất bản tại Việt Nam của ông: Cú sốc thời gian và kinh tế Việt Nam (Nhà xuất bản Tri Thức, 2016), Việt Nam hôm nay và ngày mai (đồng chủ biên, Nhà xuất bản Đà Nẵng), Kinh tế Nhật Bản giai đoạn phát triển thần kỳ 1955 - 1973 (Nhà xuất bản Đà Nẵng), Vì một Việt Nam dân giàu nước mạnh (đồng chủ biên, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2023), Hồi ức đến tương lai (Nhà xuất bản Đà Nẵng và Omega+, 2025)…



