Xã hội

Truyện ngắn: Năm tháng nhớ thương

Nguyễn Văn Học 28/08/2025 20:00

Đêm lặng im. Đôi mắt chong chong. Ông Hành ra góc sân âm thầm ngắm hoa quỳnh nở. Trăng vằng vặc sáng. Cả một vùng quê như được dát vàng bởi ánh trăng. Ký ức dắt ông về thời gian nan mà đầy anh dũng…

4a minh họa truyện năm tháng nhớ thương
Minh họa: Vũ Thủy

Sau trận nắng sà sã, trời đã dịu hơn. Lối nhỏ vào khu đầm, hoa giấy kiệt cùng nở. Ông Phong cất tiếng gọi: “Người làm ra nhiều thóc nhất vùng đâu rồi?”. “Có tôi đây, có tôi đây”. Ông Phong không giấu được niềm vui. “Có tin của Tuệ rồi”. Lời ông Phong khiến khuôn mặt lấm tấm mồ hôi của ông Hành nở ra. Hai ông trao đổi nhanh về tình hình kết nối và có được những thông tin quý báu của liệt sĩ Tuệ, dự kiến cuối tuần sẽ về chiến trường xưa để tìm hiểu thêm một vài thông tin, rồi làm các thủ tục đưa ông Tuệ về quê hương.

Cơm tối xong, ông Hành sắm sửa đồ đạc trước. Khi mở cánh tủ, lấy cặp tài liệu, ông chạm tay vào gói đựng chiếc áo bộ đội của ông Tuệ. Màu áo tuy đã cũ, nhưng mỗi lần bỏ ra nhìn ngắm, mắt ông lại rưng rưng. Ông gọi điện lại cho ông Phong, nói như thể để mình vững tâm hơn: “Hy vọng công sức của chúng ta được đền đáp. Tôi những tưởng đã không còn hy vọng gì nữa”. Ông Phong cười sảng khoái: “Gái có công, chồng không phụ mà. Cũng có thể, Tuệ dẫn lối cho anh em mình”.

Đêm lặng im. Đôi mắt chong chong. Ông Hành ra góc sân âm thầm ngắm hoa quỳnh nở. Trăng vằng vặc sáng. Cả một vùng quê như được dát vàng bởi ánh trăng. Ký ức dắt ông về thời gian nan mà đầy anh dũng…

***

Ông xung phong lên đường nhập ngũ đúng ngày mưa to lắm. Nước lênh cánh đồng. Người trai vóc dáng cao được chọn học khóa huấn luyện đặc công rồi vào chiến trường B. Ở quê nhà, ông đã thương cô gái hàng xóm nết na. Hình bóng cô theo ông mỗi bước hành quân, mỗi trận đánh. Một dịp, người đồng đội thương binh được nghỉ phép, ông Hành nhờ mang lá thư về cho cha mẹ, kèm bài thơ gửi tặng cô hàng xóm. Đến Quảng Ngãi, người đồng đội bị địch phục kích, bắn chết. Một chiến sĩ sau khi chôn cất đồng đội, liền tiếp tục mang thư về theo địa chỉ ghi ở đó. Ông tưởng người mình mai táng là Lê Duy Hành, nên đứng trước cha mẹ ông Hành, nói: “Con xin chia buồn cùng hai bác… anh Hành đã hy sinh…”

Chiến đấu ròng rã, ông Hành bị thương năm lần. Sau ngày giải phóng, ông về làm công tác quân quản ở Nha Trang rồi “bảy sáu” ra bắc, được về thăm nhà. Trước ngôi nhà vắng lặng, cha mẹ già yếu, ông ôm lấy cha, mẹ mà khóc. Mẹ ông nghẹn ngào: “Ơn trời, mọi người tưởng con đã…”.

Bao bi lụy, tuyệt vọng biến thành niềm vui vỡ òa. Nhà ấm hơn. Người cựu binh rưng rưng thắp hương lên ban thờ có… hình ảnh mình. Chiều ấy, ông hỏi chuyện cô hàng xóm, nhưng người xưa đã theo chồng. Lòng ông buồn da diết. Chuyện khóc cười, mất mát trong thời tao loạn, bom đạn là bình thường. Ông xót xa khi gặp lại bà con, láng giềng. Làng nép mình bên sông nhỏ, chỉ toàn người già, phụ nữ và con trẻ. Chiến tranh cướp đi bao trai tráng khỏe mạnh, và trả về những người đàn ông mang đầy vết thương…

Tháng năm ngào ngạt khói hương. Thê lương, buồn đau đấy, song người hôm nay vẫn phải sống. Ông Hành lấy bà Hoa - là vợ liệt sĩ, ở xã bên, có một con trai. Những con trai con gái của ông bà lần lượt chào đời. Người cựu binh lại đôn đáo mưu sinh, báo hiếu cha mẹ. Ông vừa làm ruộng, vừa buôn mắm muối. Sau ba năm cật lực, túng thiếu vẫn hoàn túng thiếu. Những vết thương trong người không cho ông lặn lội trên thương trường đầy khó khăn. Ông quay về quê vay tiền, thuê đầm bãi, mượn đất cải tạo, trồng cây nuôi cá. Khó khăn chồng chất khó khăn. Người làng nể phục vợ chồng ông Hành đã dám biến một vùng đọng nước, cây cỏ hoang dại ngang đầu người thành khu trang trại đẹp như mơ.

***

Về làng sau ông Hành một năm, bước chân ông Phong tập tễnh, mắt kém, nhưng ông cũng chẳng chịu đầu hàng vất vả. Hai năm sau ông lấy vợ và chăm chút cho mùa màng. Vợ ông hơn chồng ba tuổi, chịu khó, nhân hậu. Đời ông bà đầy chao chát, như cánh đồng quanh năm phơi dưới nắng hè. Bà sinh ba con thì hai người “không được khôn như con người ta”, đặt lần lượt là Hiền, Lương, Vượng. Trong ba con, Lương suy nghĩ khá nhất nhưng cũng chỉ học qua lớp bốn rồi tự bỏ. Ông vẫn nghĩ, khó khăn giờ chẳng bằng một phần năm xưa, và động viên vợ: “Giời sinh voi, sinh cỏ, mình ạ”. Hai vợ chồng bảo nhau làm ăn, cuộc sống cũng vơi bớt nhọc nhằn. Lần ấy, ông sang thăm đồng đội mất một cánh tay, ở xã bên và thấy những chiếc bình tông, chiếc ba lô bị phủ bụi ở góc nhà. Trong lúc nói về chuyện ai còn, ai mất, người đồng đội thốt lên: “Ai là người sẽ nhớ đến một thời của chúng ta?”.

Từ ấy ông Phong nảy ra ý định sưu tầm kỷ vật để làm cầu nối năm xưa, hiện tại và mai sau. Trong những chuyến sưu tầm ông còn kết nối thông tin tìm mộ liệt sĩ. Có người bảo ông lẩn thẩn. Người khác nói ông hâm. Ông mặc kệ. Ông biết mình cần gì và đã “làm tư tưởng” với vợ con. Ban đầu vợ ông không nghe, sau thấy chồng quyết tâm làm việc nghĩa, đã chịu để ông mang đồ về nhà. Ông đi như giời đày. Như con thiêu thân. Hai lăm năm, với một nghìn cổ vật, góp sức tìm được hàng chục hài cốt liệt sĩ và kết nối cả nghìn thông tin. Không biết ông lấy đâu sức lực để làm nhiều việc đến thế…

***

Sáng tinh khiết. Chiếc xe từ ngõ nhỏ ra đường lớn, nhằm hướng chiến trường xưa. Ông Phong an tâm với những thông tin mình có. Chuyến đi này ông hát rất nhiều. Sau năm ngày bốn đêm, chiếc xe thuê riêng đã quay về. Đó là một ngày nắng đẹp. Quê hương mở vòng tay. Đồng đội vui mừng. Liệt sĩ Tuệ được đưa về an táng ở nghĩa trang quê nhà. Ông Phong không thể giấu được niềm vui vì đã hoàn thành thêm một việc nghĩa. Ngược lại, trong sâu thẳm, ông Hành có phần ngậm ngùi. Ông từng hứa với vợ liệt sĩ Tuệ, nhưng lại không tin có thể tìm được hài cốt của chồng bà.

Công việc của gia đình liệt sĩ Tuệ xong xuôi, ông Hành mở cánh tủ, mang chiếc áo bộ đội cũ sang nhà ông Phong. Không gian có sự góp mặt của nhiều kỷ vật. Nào vỏ bom, vỏ đạn, mũ phi công của quân ta và giặc. Nào áo trấn thủ, bình tông, mũ cối, lưỡi lê. Mé kia đặt vỏ quả bom Mk 82 cánh cụp cánh xòe, đạn pháo sáng hay góc gian bên phải là một số thiết bị thông tin liên lạc thời chiến… “Ngôi nhà kỷ vật” của ông Phong như bảo tàng nhỏ với những hiện vật biết nói.

Mấy chú chim lích chích trên dây phơi ngoài sân. Dưới tán khế hoa quả lúc lỉu, ông Phong kê bộ bàn ghế đá để tiện trà nước. Hương trà sen thơm ngát. Nhấp xong ngụm trà đầu tiên, ông Hành ngậm ngùi:

- Có một chuyện mong ông hiểu cho. Tôi từng nghĩ, ông dở hơi nên mới khuân tiền gia đình, chạy đôn đáo tìm hiểu, kết nối, khớp lại các nguồn tin để tìm hài cốt đồng đội, trong khi con cái còn rất khổ sở. Nay tôi mang chiếc áo ngày xưa Tuệ quên ở nhà, để ông trưng bày. Đây là kỷ vật duy nhất của Tuệ mà vợ anh đã trao cho tôi từ hơn mười năm trước.

Ông Phong đỡ lấy tay ông Hành:

- Nếu là chị ấy trao cho ông, thì ông cứ giữ lấy, tôi không có ý tranh giành một kỷ vật với bạn.

Ông Hành lắc đầu:

- Không. Kỷ vật này phải đặt ở đây mới có ý nghĩa. Thú thực, tôi với ông không cùng đơn vị, nhưng cũng trải qua đời quân ngũ, vào sinh ra tử, tôi lại hẹp hòi, những tháng năm qua âm thầm so kè với ông, với cả những việc ông đã làm. Ông vất vả hơn tôi mà vẫn gắng gỏi, lại làm những việc mà người khác không dám. Thật đáng nể biết bao. Rồi thằng con của tôi, lần đó nó hỗn hào với ông. Tôi đã không mắng mỏ con, lại bênh nó chằm chặp.

Ông Phong đỡ lời:

- Kìa. Khu đầm xinh đẹp của ông là minh chứng cho tinh thần không bao giờ bỏ cuộc. Tôi biết, những năm đầu, ông cũng mất mùa, vợ con đói kém. Nhưng ông đã vượt qua. Còn chuyện trẻ con, các cháu nó chưa hiểu biết, xấc xược với người lớn cũng là bình thường. Giờ cậu ấy đã hai con rồi đấy nhỉ?

Bầu không khí như căng hơn. Câu chuyện có chút khách sáo.

Ông Phong không muốn câu chuyện trở nên nặng nề, nên cố làm dịu.

Lương con trai ông Phong đứng nghe chuyện của hai ông tự lúc nào. Lúc này cậu mới lên tiếng:

- Bố và chú ít nghĩ những chuyện nặng nề. Ít nghĩ thì lòng sẽ nhẹ. Cái gì đáng cho qua thì nên cho qua…

Nhờ Lương mà hai ông quên nói năng khách sáo. Ông Phong nhận gói đồ và bộc bạch về chuyến đi sắp tới. Vẫn là chuyện thông tin hài cốt liệt sĩ và tìm kỷ vật. Thời gian phủ mờ rất nhiều vùng ký ức, nên ông Phong muốn tận dụng mọi cơ hội để gặp những món đồ. Ông khoe với ông Hành:

- Cu cậu giỏi làm lồng chim, khách đặt ngày càng nhiều nên tôi được giúp khá nhiều kinh phí cho mỗi chuyến đi. Chữ viết dán trên các hiện vật, đều nhờ cháu nó đấy ông ạ. Giờ lém lỉnh lắm.

Khi ông Hành bảo, Lương cần có người “nâng khăn sửa áo”, cậu lắc đầu:

- Cháu ở vậy, sau này còn giữ nhà bảo tàng cho bố, chú ạ!

Ông Phong mừng vì ba năm nay cả ba con đều khá hơn. Lương bạo dạn, lém lỉnh. Cậu đang tìm hiểu một người và nếu thuận, cuối năm cưới vợ. Khi biết con gái đầu và út của bạn đã học nghề, biết làm việc, tự lo cho mình, ông Hành mừng lắm.

- Tôi không biết diễn đạt thế nào, quả thực, ông quá giỏi lo việc.

Ông Phong cười sảng khoái:

- Nhờ vợ tôi cả đấy. Vừa đồng áng, chạy chợ, vừa lo con cái. Tôi thấy mình có phúc. Mà ông còn hơn hẳn người khác một cái đầu. Thóc lúa mỗi năm bán cả chục tấn.

Lương xách chiếc lồng, bên trong là cặp họa mi tuyệt đẹp đến trước mặt bố và ông Hành.

- Nếu chú không chê, cháu xin được biếu chú cặp chim này. Chú đặt lồng bên hiên nhà, dù làm vườn, hay ra ao đầm vẫn nghe thấy tiếng hót.

Ông Hành nhìn ông Phong. Ông Phong gật đầu.

- Được. Chú xin nhận. Chú thật chẳng biết cảm ơn hai bố con cháu thế nào nữa.

Chiều buông sương tự bao giờ. Ông Hành xách lồng chim về nhà. Lòng nhẹ bẫng vì vơi đi mớ suy nghĩ rối ren. Đầu ngõ, hoa giấy ngũ sắc rực rỡ thắp sáng một dải dài, như chào đón. Hai con chim đã hót những tiếng đầu tiên, trong khu vườn đầm ngát hương hoa cây trái. Ông Hành nói với hai con chim, cũng là nói với mình: “Ông Phong đã thành công trong việc dạy thằng Lương. Giỏi. Giỏi thật!”

Nổi bật Báo Nghệ An

Mới nhất

x
Truyện ngắn: Năm tháng nhớ thương
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO