Về với mạch nguồn sinh khí của đất trời xứ Nghệ…
Tháng Hai, đúng dịp kỷ niệm Ngày thành lập Đảng, tôi theo TS. Bùi Mạnh Cường, người sáng lập Quỹ Mái ấm Hạnh phúc trở về quê nhà Thanh Chương (cũ) trao quà cho bà con nhân dân. Chuyến đi tưởng như bình thường của một quỹ thiện nguyện nhưng càng đi sâu vào đất Nghệ, tôi càng hiểu đó là một hành trình khác: Hành trình trở về với căn cứ cách mạng của một vùng đất và của chính mỗi con người.
Nghệ An không chỉ rộng mà “dày”. Dày lịch sử, dày nhân kiệt, dày những lớp trầm tích của ý chí và khát vọng vươn lên mà khó có vùng đất nào có thể sánh bằng.
Đi dọc tỉnh, mỗi huyện (cũ) hiện lên như một trang sử mở, gợi nhắc những năm tháng hào hùng của dân tộc. Mỗi vùng đất là một lát cắt của lịch sử, góp phần làm nên truyền thống địa linh nhân kiệt của quê hương. Nam Đàn (cũ) - quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Phan Bội Châu. Hưng Nguyên – quê hương của Lê Hồng Phong, Phạm Hồng Thái. Yên Thành (cũ) – quê hương của Phan Đăng Lưu, Nguyễn Kiệm. Vinh (cũ) - quê hương của Nguyễn Thị Minh Khai, Đại tướng Chu Huy Mân. Thanh Chương (cũ) – quê hương của Nguyễn Sỹ Sách, Nguyễn Cảnh Chân, Nguyễn Cảnh Dị, Nguyễn Cảnh Hoan, Đặng Thúc Hứa, Đặng Nguyên Cẩn, Đinh Bạt Tụy, Phan Nhân Tường, Nguyễn Tiến Tài, Tôn Thị Quế, Võ Thúc Đồng, Giáo sư Đặng Thai Mai, Tôn Quang Phiệt, nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ…

Thành phố Vinh (cũ) đón chúng tôi trong thứ nắng hanh hao của miền Trung, thứ nắng như đã thấm vào đất đai, vào giọng nói, vào cả dáng người xứ Nghệ. Bất giác, giai điệu “Vinh - Thành phố bình minh” của nhạc sĩ Lê Hàm ngân lên trong trí nhớ, không ồn ào mà da diết như một lời chào. Vinh hôm nay khoác lên mình diện mạo của một đô thị đang vươn vai: Những đại lộ mở rộng đến tận chân trời, khu công nghiệp nối nhau sáng đèn, dòng người xuôi ngược qua Sân bay Vinh mỗi ngày một đông. Nhịp sống rộn ràng, hối hả, mang theo khát vọng đi lên của một vùng đất nhiều nắng gió. Nhưng nếu lắng lại một chút, phía sau lớp áo hiện đại ấy vẫn là một nhịp tim trầm tĩnh và bền bỉ. Như con nước Sông Lam lặng lẽ chảy qua bao mùa dâu bể, Vinh giữ cho mình cốt cách riêng: Mộc mạc mà kiên cường, giản dị mà sâu thẳm. Thành phố (cũ) không chỉ “lớn lên” bằng bê tông, kính, thép mà còn bằng ký ức, bằng lịch sử, bằng những con người đã đi qua chiến tranh, qua đói nghèo để giữ lại cho hôm nay một nền tảng, một hành trang vững vàng tiến vào kỷ nguyên mới.
Rời thành phố Vinh (cũ), xe chúng tôi ngược về Nam Đàn (cũ) trong một buổi trưa nắng dịu. Con đường vào Kim Liên rợp bóng tre làng, những thân tre gầy guộc mà kiêu hãnh như dáng đứng của bao thế hệ người xứ Nghệ. Gió thổi qua cánh đồng lúa vừa được bà con gieo sạ mang theo mùi đất ẩm và hương rơm rạ. Trước mái nhà tranh đơn sơ ở làng Hoàng Trù, Kim Liên - nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh cất tiếng khóc chào đời - không gian như chùng xuống. Không phải bởi sự tĩnh lặng của di tích mà bởi sức nặng của lịch sử. Từ nơi bình dị này đã bước ra một con người làm thay đổi vận mệnh dân tộc mà nói như cách của Tổng Bí thư Lê Duẩn: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch – Người anh hùng dân tộc vĩ đại và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta”.
Nhưng điểm neo sâu nhất của chuyến đi thiện nguyện tri ân lần này lại là Thanh Chương (cũ) - miền quê lặng lẽ, hiền hòa ôm lấy tuổi thơ TS. Bùi Mạnh Cường. Đoạn Sông Lam chảy qua đây không ồn ào như nơi cửa biển, cũng không mãnh liệt như thượng nguồn. Con nước lững lờ men theo những bãi bồi phù sa, đi qua những xóm nhỏ còn ngai ngái mùi rơm mới đốt. Trên triền đê, gió thổi dài như những câu hát ví, giặm. Không gian ấy khiến tôi nhớ đến câu thơ của người con ưu tú đất Thanh Chương – nhà thơ Lê Huy Mậu trong trường ca “Thời gian khắc khoải” (sau này được nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo phổ nhạc thành ca khúc “Khúc hát sông quê” nổi tiếng): “Quê hương ta nghèo lắm/Ta mổ lợn, con quạ khoang cũng ngồi chờ chia thịt/Cá dưới sông cũng có Tết như người/…”.

Cái nghèo hiện lên không phải để than thở. Đó là cái nghèo gan góc, cái nghèo của đất đai khô cằn sỏi đá nhưng con người nơi đây thì hiên ngang không chịu cúi đầu. Nghèo mà vẫn giữ được lòng tự trọng, giữ được chữ nghĩa, giữ được khát vọng cho con cái vượt khỏi lũy tre làng. Thanh Chương (cũ) không phải miền đất dễ sống. Núi nhiều, nắng gắt, gió Lào khô rát, mùa mưa thì nước sông Lam dâng cao, đôi khi chỉ qua một đêm đã làm đổi màu cả bãi bồi, sạt lở của một triền bãi. Nhưng có lẽ chính sự khắc nghiệt ấy đã hun đúc nên cốt cách con người: Bền bỉ, ít lời mà nặng nghĩa. Có phải như trong lời thơ gan ruột của trường ca “Thời gian khắc khoải” của người con Thanh Chương đó; có phải như là sự tiếp nối mạch nguồn muôn thuở của con người nơi xứ sở khó nhọc nghĩa tình này: “Chẳng biết ta đã ăn ở thế nào với đất/mà đất lở sông ơi !/nơi ta chăn trâu thả diều ngày cũ đã đâu rồi/hạt đất quê ta giờ đã bồi về đâu mà chẳng biết/có làng xóm nào sinh/có hòn đảo nào sinh/từ hạt đất bờ sông quê ta lở/như cuộc đời ta khuyết hao để đắp bôi rờ rỡ/những sớm má hồng ríu rít cháu con ta/…” mà đã tạo nên những nghĩa tình tri ân thiện nguyện vô bờ bến ở mọi miền Tổ quốc như Quỹ Mái ấm Hạnh phúc hôm nay.
Người sáng lập Quỹ Mái ấm Hạnh phúc sinh ra từ miền quê “Ai biết nước sông Lam răng là trong, là đục/Thì biết sống cuộc đời răng là nhục, là vinh…”. (“Tiếng hát sông Lam” của nhạc sĩ Đinh Quang Hợp). Tuổi thơ anh gắn với nhút mặn, cà chua, trám bùi, với những bữa cơm chưa đủ no, với những mùa lũ nước dâng trắng bờ bãi, với những đêm nghe tiếng gió hú dọc triền sông. Từ bãi bồi phù sa ấy, anh lớn lên, đi xa, gây dựng sự nghiệp nơi đất khách nhưng sợi dây nối với quê nhà chưa bao giờ đứt đoạn. Lòng tôi lại xốn xang khó tả như hòa quyện cùng âm điệu và lời bài hát “Về quê anh” mà chính anh – một tác giả nghiệp dư vừa sáng tác.
Hôm nay, trong những ngày cận kề Tết Nguyên đán, anh cùng vợ - PGS.TS Nguyễn Thị Tố Quyên, các con và các thành viên của Quỹ Mái ấm Hạnh phúc hoan hỷ, háo hức trở về trao quà cho bà con nghèo. Hành trình 10 năm qua không ồn ào, không phô trương như con nước sông Lam kia, cứ bền bỉ chảy. Sự trở về ấy không chỉ là nghĩa tình cá nhân mà còn là cách trả món nợ ân tình với đất, với quê, với những tháng ngày nghèo khó đã hun đúc nên ý chí của một con người. Anh chị chạy tất bật tri ân không những quê hương Thanh Chương (cũ) mà còn đến với bà con các huyện (cũ): Nam Đàn, Hưng Nguyên, Yên Thành, Anh Sơn, Tân Kỳ, Nghĩa Đàn…
Có một địa điểm trao quà năm nay thật đặc biệt - chùa Giai. Ngôi chùa cổ nép mình dưới tán đại già, những cánh hoa trắng rơi thầm trên nền gạch cũ. Đây cũng là công trình gia đình anh tâm huyết trùng tu, xây dựng, tôn tạo, mở rộng và được khánh thành từ cuối năm 2024. Không gian bảng lảng khói hương, tiếng chuông chùa ngân lên từng nhịp chậm, lan qua mái ngói rêu phong rồi tan vào xóm nhỏ ven sông. Giữa trung tâm chùa, pho tượng Phật Bà nghìn mắt nghìn tay bằng Ngọc Phỉ Thúy quý hiếm (được sưu tầm nguyên khối từ Canada, các nghệ nhân Thái Lan đục chạm, qua trì chú Ấn Độ và được thỉnh về chùa), trông thật uy nghi mà hiền từ, độ lượng. Ánh nhìn như dõi xuống từng mái nhà, từng phận người lam lũ. Người dân trong vùng bảo, từ ngày chùa được tôn tạo khang trang hơn, họ không chỉ có chỗ lễ bái mà còn có một điểm tựa tinh thần - nơi gửi gắm những lo toan thường nhật.

Buổi trao quà diễn ra giản dị đến mức nếu không để ý, người ta có thể tưởng chỉ là một buổi họp làng. Không sân khấu, không băng rôn rực rỡ. Chỉ có những cụ già chống gậy đến từ rất sớm, những người phụ nữ quấn khăn nâu sẫm màu nắng gió, bỏm bẻm nhai trầu, những đứa trẻ nép sau lưng mẹ, đôi mắt vừa rụt rè vừa háo hức. Khi từng phần quà được trao tận tay, không khí bỗng chùng xuống. Có cụ lặng lẽ quay đi chấm nước mắt. Có người chỉ nói một câu mộc mạc: “Rứa là quý lắm rồi!”.
Trong vòng tay của xóm làng, anh Cường bước lên bục nói với chất giọng Nghệ trầm mà chắc: “Mình đi xa nhưng quê thì luôn ở trong tim. Làm được gì cho quê thì phải làm”. Không khẩu hiệu. Không ước lệ. Chỉ một câu nói giản dị mà nghe như một lời hẹn với đất. Và trong khoảnh khắc ấy, tôi nhận ra: Sự trở về có khi không nằm ở quãng đường địa lý mà nằm ở cách người ta giữ quê hương trong tim mình sâu đến nhường nào.
Đứng dưới mái chùa cổ có từ thế kỷ XV ở Thanh Chương (cũ), nghe tiếng chuông tan vào buổi trưa muộn, tôi lại nhớ đến bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân Nghệ An, ngày 21/7/1969 - những dòng chữ cuối cùng dành cho quê hương trước lúc Người đi xa. Trong thư, Người căn dặn phải giữ gìn mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và Nhân dân, phải chăm lo đời sống đồng bào, phải xây dựng Nghệ An trở thành một trong những tỉnh khá nhất miền Bắc. Đó không chỉ là lời nhắn nhủ mà là một lời giao ước chính trị - đạo lý, đặt nền móng cho tư duy phát triển gắn với trách nhiệm và tình dân. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, lời dặn ấy vẫn như ngọn đèn thắp sáng giữa lòng xứ Nghệ. Nó soi vào từng chủ trương, từng quyết sách, từng công trình mọc lên trên mảnh đất này. Và mỗi người con Nghệ An, dù ở lại hay đi xa, dường như đều mang trong tim mình ánh sáng ấy - thứ ánh sáng của niềm tin, của nghĩa tình, của khát vọng vươn lên không ngừng.
Tinh thần ấy đã được cụ thể hóa trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Nghệ An khóa XX, nhiệm kỳ 2025-2030, với mục tiêu đưa Nghệ An trở thành trung tâm của Bắc Trung Bộ về giáo dục - đào tạo, y tế, khoa học - công nghệ, công nghiệp và nông nghiệp công nghệ cao. Ba khâu đột phá: Hạ tầng chiến lược, cải cách hành chính và phát triển nguồn nhân lực được xác định như những mũi nhọn mở đường. Những công trình đang hiện hữu từng ngày: Tuyến cao tốc Bắc - Nam rút ngắn khoảng cách; Cảng Cửa Lò mở rộng đón những con tàu lớn hơn; Sân bay Vinh được nâng cấp để nối gần hơn những miền đất xa; Khu kinh tế Đông Nam thu hút dòng vốn mới, tạo sinh kế mới. Di sản Kim Liên được gìn giữ như một báu vật; không gian du lịch văn hóa - tâm linh - sinh thái dọc Sông Lam, biển Cửa Lò, miền Tây Nghệ An bát ngát đang dần định hình. Nhưng tất cả những điều ấy không chỉ là những dòng chữ khô khan trên giấy nghị quyết. Đó là một cuộc đối thoại thầm lặng với quá khứ. Là cách thế hệ hôm nay trả lời lời dặn năm xưa của Bác bằng hành động cụ thể.
Phát triển nhưng không đánh đổi ký ức. Hiện đại nhưng không rời cội rễ. Bởi Nghệ An, hơn bất cứ nơi nào, hiểu rằng sức mạnh của mình không chỉ nằm ở những đại lộ mới mở mà còn ở mái nhà tranh Kim Liên, ở dòng Lam nặng tình, nặng nghĩa, ở những con người đi xa mà lòng vẫn hướng về quê mẹ.
Trong bữa cơm đạm bạc buổi trưa hôm ấy, đồng chí Lê Đình Thanh - Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Xuân Lâm (trên cơ sở sáp nhập 3 xã Minh Tiến, Xuân Dương và Ngọc Sơn của huyện Thanh Chương) say sưa nói về tương lai của quê nhà bằng giọng mộc mạc mà ấm. Không phải là những lời lớn lao, cũng không hùng biện, anh chỉ chậm rãi kể về những con đường sẽ mở, những nhịp cầu sẽ bắc qua để nối Nam Đàn với Đại Đồng, cửa khẩu Thanh Thủy, về tuyến đường ven sông Lam rồi sẽ đưa gió sông đi xa hơn, mang theo cơ hội đến gần hơn với từng mái nhà. Nghe qua, đó vẫn là câu chuyện của quy hoạch, của phát triển kinh tế, của nâng cao đời sống, thu nhập cho người dân. Nhưng càng nghe, tôi càng nhận ra đằng sau những dự định tưởng như khô khan ấy là một khát vọng rất đỗi con người: Khát vọng để con cháu mai này không phải rời quê quá sớm, để những mái nhà đêm xuống vẫn sáng đèn đoàn tụ. Tôi cũng nghe đồng chí lãnh đạo xã Xuân Lâm chia sẻ, trước buổi tri ân thiện nguyện tại chùa Giai hôm nay, chỉ trước đó 1 tuần, anh Cường cũng đã cùng Quỹ Mái ấm Hạnh phúc, Quỹ Thiện tâm về trao cho quê hương hàng ngàn suất quà tri ân dịp Tết, thăm và chúc Tết Giáo xứ Phúc Yên (xã Xuân Lâm), các dòng họ Bùi, họ Nguyễn Duy, họ Văn; dâng hương hoa tại đền thờ Nguyễn Cảnh Hoan…
Thời gian qua, Xuân Lâm quyết tâm xây dựng nông thôn mới và điều đáng mừng là chủ trương của xã đã được nhân dân đồng lòng ủng hộ. Hàng ngàn mét vuông đất đã được người dân lặng lẽ hiến tặng. Đấy là những hàng rào được dời vào trong, những gốc cây quen thuộc phải di dời đi, những thửa vườn từng nuôi lớn bao thế hệ nay trở thành lối chung cho xóm làng. Hàng nghìn ngày công góp lại. Sau một ngày tất bật mưu sinh, bà con vẫn ra đường làng: Người vác cuốc, người trộn bê tông, người thắp đèn làm đến trời tối. Không ai bảo ai, chỉ thấy nếu con đường này rộng thêm một mét thì tương lai của làng sẽ gần lại một bước.
Đến quá giờ chiều, chúng tôi lên xe về Hà Nội. Đứng bên bờ Sông Lam thấy gió từ miền Tây tràn về, mang theo cái se lạnh cuối Đông và mùi phù sa ngai ngái; gió biển từ Đảo Hòn Ngư thổi lên mang theo hy vọng mát lành về sự hội nhập quốc tế trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Dòng sông không nói điều gì, chỉ lặng lẽ chảy như đã chảy qua bao mùa bão lũ, qua chiến tranh, qua những năm tháng đói nghèo và cả những ngày mở cửa đổi mới. Bên kia bờ, những mái nhà mới xây ánh lên trong nắng tắt, nổi bật giữa màu xanh bát ngát của đồng ruộng Hà Tĩnh – mảnh đất địa linh nhân kiệt, cùng với Nghệ An đã làm nên cốt cách, văn hóa giàu truyền thống của vùng đất xứ Nghệ… Một bức tranh khác xưa nhưng vẫn cùng một mạch đất, một nguồn cội.

Trong khoảnh khắc ấy, tôi hiểu chuyến đi này không chỉ là một cuộc trở về thiện nguyện tri ân. Nó là một lát cắt sống động của mối quan hệ “máu thịt” giữa Đảng và Nhân dân mà Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn trong bức thư gửi quê nhà năm 1969. Khi một người con xa xứ trở về sẻ chia với làng xóm bền bỉ, kiên trì. Khi chính quyền và nhân dân đồng lòng cụ thể hóa nghị quyết bằng những công trình, những chương trình an sinh. Khi truyền thống cách mạng không nằm yên trong tủ kính mà hóa thành hành động giản dị: Trao một phần quà tận tay người già, góp sức tu bổ một mái chùa, mở rộng một con đường làng. Những điều giản dị ấy đã đi vào trong thơ ca, âm nhạc một cách sâu sắc mà ý nhị: “Trên bãi sông ta trồng cây cải tươi/ta ăn lá còn bướm ong thì hút mật/lúa gặt rồi - còn lại rơm thơm/trâu đủng đỉnh nhai cả mùa Đông lạnh…/cùng một bến sông/phía dưới trâu đằm/phía trên ta tắm/…” (Trường ca “Thời gian khắc khoải” của nhà thơ Lê Huy Mậu); “Em qua chợ Cồn, chợ Giăng, chợ Rạng, đò Phuống/Nghe như đâu đây tiếng mẹ, tiếng chị chờ mong ta về”; “À ơi, về quê anh/Nghe như vọng từ đâu đây lời bà ta nguyện ước/À ơi, tiếng mẹ cha ru hời/Câu dân ca xứ Nghệ/Mà cuộc đời khôn lớn mãi tìm về”… (Ca khúc “Về quê Anh” của TS Bùi Mạnh Cường).
“Đường vô xứ Nghệ quanh quanh…”. Câu ca dao xưa vẫn bắc qua núi đồi, nghiêng mình bên triền sông, chảy suốt vào ký ức của bao thế hệ. Con đường địa lý có thể còn quanh co nhưng con đường phát triển của Nghệ An hôm nay đã mở ra sáng rõ. Trên hành trình ấy có mạch nguồn linh khí của đất trời xứ sở; có bóng dáng những chí sĩ cách mạng tiền bối; có lời Bác dặn năm xưa; có tinh thần sục sôi của Xô viết Nghệ Tĩnh; có ý chí và khát vọng của Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân tỉnh nhà; và cả những bước chân lặng lẽ của những con người nặng lòng với quê hương.
Nghệ An, Hà Nội, tháng 2/2026.


