Ý nghĩa của từ “Amen” và “Alleluia” trong phụng vụ và kinh thánh Công giáo

(Baonghean.vn) - Amen hay a-men là từ được sử dụng trong những kinh sách đầu tiên của Do Thái giáo. Trong các nghi thức thờ phụng của Kitô giáo, amen được dùng như là một lời kết cho những lời cầu nguyện và thánh ca.

1. Amen: Là từ ngữ Do thái được sử dụng trong Phụng vụ và Kinh thánh của Giáo hội.

Trong Phụng vụ: Tiếng Amen đươc dùng để kết thúc một lời cầu xin dài hay ngắn với ước mong được Chúa chấp nhận lời cầu xin đó và ban cho ta như lòng mong muốn.

Ngoài ước muốn được nhậm lời cầu nói trên, Amen còn có nghĩa là “đúng vậy, chắc chắn như vậy” - Ý nghĩa này được dùng khi linh mục, phó tế hay thừa tác viên thánh thể giơ cao Mình Thánh  hay chén Máu Thánh Chúa lên và nói “Mình Thánh Chúa Kitô” hoặc “Máu Thánh Chúa Kitô” người rước Lễ  thưa Amen, có nghĩa là  “đúng như vậy, đây là Mình, hay Máu Thánh Chúa Kitô”.

Vậy trước khi rước Mình và Máu Thánh Chúa, ta phải thưa Amen với ý nghĩa này để tuyên xưng niềm tin có Chúa Kitô thực sự hiện diện trong hình Bánh và Rượu nho. 

Trong Kinh Thánh: Trong Gioan 3,3  Chúa Giêsu nói : “Thật (Amen) Tôi bảo thật (Amen) ông không ai có thể thấy Nước Thiên Chúa nếu không được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên”. Amen trong câu này có nghĩa là “Sự thật, đúng như vậy”.

Trong Sách Khải Huyền, chúng ta đọc được câu sau đây: “Hãy viết cho thiên thần của Hội Thánh Lao-đi-kia: đây là lời của Đấng Amen, là Chứng Nhân trung thành và chân thật, là Khởi Nguyên của mọi loài Thiên Chúa tạo dựng”. (Kh 3,14). Câu này cho thấy Chúa Kitô chính là Đấng Amen, là Lời Thật của Thiên Chúa phán ra và nhờ LỜI ấy Thiên Chúa tạo dựng mọi loài, mọi vật.

Sách Giáo Lý Công Giáo, câu 1065, cũng viết: “Chúa Giêsu Kitô chính là Đấng Amen. Người là Amen của tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta. Người cũng thâu tóm và hoàn tất Amen của chúng ta dâng lên Chúa Cha…”.

2. Alleluia: Cũng là từ ngữ Do Thái lấy từ Kinh Thánh Cựu Ước, phiên âm nguyên ngữ ra các tiếng Tây phương (Anh, Pháp, Ý, Tây Ban Nha…) là Hallelujia, nhưng vì trong những ngôn ngữ này, người ta không đọc được âm H nên chỉ quen đọc là Alleluia như chúng ta vẫn nghe từ xưa đến nay.

Từ ngữ này có nghĩa là “Hãy chúc tụng Thiên Chúa” (Praise to God). Trong phụng vụ của Giáo Hội, tiếng Alleluia được dùng để diễn tả niềm vui hoan hỉ (jubilation) và lòng cảm tạ (thanksgiving) dâng lên Thiên Chúa. Riêng trong Sách Khải Huyền thì Alleluia được dùng để chỉ  tiếng reo  mừng  của các thiên thần: “Sau đó tôi nghe như có tiếng hô lớn của đoàn người đông đảo ở trên trời vang lên: Halleluia! Thiên Chúa ta thờ là Đấng cứu độ, Đấng vinh hiển uy quyền”. (Kh 19:1)

Tổng hợp