baonghean.vn

Ouest

Concernant la « capitale du taro »

(Baonghean.vn) À cette période, la plupart des visiteurs venus des plaines et se rendant à Ky Son, district frontalier montagneux, achètent du taro pour le consommer ou l'offrir en cadeau. En effet, c'est la pleine saison des récoltes, et le taro est alors à son apogée en termes de saveur et de teneur en amidon.

(Baonghean.vn) À cette période, la plupart des visiteurs venus des plaines et se rendant à Ky Son, district frontalier montagneux, achètent du taro pour le consommer ou l'offrir en cadeau. En effet, c'est la pleine saison des récoltes, et le taro est alors à son apogée en termes de saveur et de teneur en amidon.

Le long de la route nationale 7A, qui traverse la ville de Muong Xen, ce taro de montagne est vendu en abondance à environ 10 000 VND/kg. Si vous avez l'occasion d'emprunter les routes menant aux villages, vous verrez souvent des femmes des ethnies Hong et Khmu transporter de lourds paniers de taro depuis leurs champs ou les vendre dans la région de Muong Xen.

À Ky Son, le taro est principalement cultivé dans les communes de Huoi Tu, Muong Long, Dooc May, Na Ngoi et Tay Son. Ces régions montagneuses sont habitées par l'ethnie Hmong. Cela indique que le taro y prospère en altitude, sous un climat frais et, bien sûr, dans un sol adapté. En cette fin d'année, malgré un froid mordant, nous étions déterminés à parcourir à moto une quinzaine de kilomètres de cols jusqu'à la commune de Tay Son, l'un des centres de production de taro à Ky Son. En chemin, nous avons dû traverser un épais brouillard, les sommets et les vallées étant drapés de nuages ​​blancs. Soudain, une idée m'est venue : et si, là aussi, le taro appréciait la brume et les nuages ?



La joie d'une abondante récolte de taro pour les habitants du village de Huoi Giang 1.
commune de Tay Son (district de Ky Son)

Đã gần trưa, đất trời và núi rừng Tây Sơn vẫn nhuốm một màu trắng của sương mây. Khi đặt vấn đề tìm hiểu về việc, trồng, thu hoạch và tiêu thụ sản phẩm khoai sọ, chúng tôi được nghe ông Vừ Chống Dì, Bí thư Đảng ủy xã thuyết giảng về loài cây này: “Ở đây hầu hết các gia đình đều trồng khoai sọ để làm lương thực, chủ yếu là tự cung tự cấp. Thứ cây này khó tính lắm, trồng nó phải chọn vùng đất tốt, thường phải xẻ phát những chỗ rừng già hoặc phủ rơm hay phân xanh lên đất rẫy chờ phân hủy mới trồng được. Như thế củ khoai sọ mới to và nhiều bột, ăn mới ngon. Nếu bón phân, bất kể là phân chuồng hay phân hóa học thì củ của nó có thể sẽ to nhưng lúc ăn chỉ thấy toàn xơ, chất bột rất ít. Như thế, sẽ phí công 8 tháng trời vun trồng, chăm bón và thu hoạch”. Chợt nghĩ, giống cây này thật lạ, tại sao được tiếp nhận nguồn dinh dưỡng từ phân chuồng và phân hóa học là đánh mất ngay bản chất của mình, trong khi đó hầu hết các loại cây nông nghiệp khác lại cho năng suất cao?

Peut-être que, depuis des générations, les plants de taro sont intimement liés aux forêts ancestrales, à la terre et à l'air, au point de n'avoir besoin d'aucun autre nutriment ? Soudain, j'ai pensé à la simplicité, à l'honnêteté et à la franchise des gens qui vivent dans les montagnes, les vallées et les paysages brumeux. Lorsque nous avons interrogé M. Vu Chong Di sur la superficie totale cultivée en taro dans toute la commune, il a répondu : « Honnêtement, il est impossible de donner un chiffre exact, car chaque foyer en cultive – certains un peu, d'autres beaucoup, certains près de chez nous, d'autres plus loin. Tout ce que je sais, c'est que les six villages cultivent du taro, mais que Huoi Giang 1 et Lu Thanh en produisent le plus. »

Guidés par un employé du bureau, nous avons traversé plusieurs forêts et gravi plusieurs pentes pour atteindre un champ de taros appartenant à une famille du village de Huoi Giang 1. La propriétaire du champ, Mme Mua Y Xia, avait les mains agiles, typiques des femmes Hmong, maniant la houe avec dextérité pour déraciner chaque plant de taro, puis ramasser les tubercules ronds et dodus et les déposer dans un panier. Ce champ de taros, d'environ 500 mètres carrés, se trouvait dans un coin d'une vaste rizière déjà récoltée, désormais recouverte de paille. Mme Xia expliqua : « Notre champ est principalement consacré à la culture du riz. Après chaque récolte, nous rassemblons généralement la paille dans un coin en attendant la saison suivante pour planter le taro et assurer sa bonne croissance. Nous le cultivons surtout pour les besoins de notre famille ; nous n'avons pas grand-chose à vendre à Muong Xen. »

Gần trưa, khi sương mù bắt đầu tan, bà con từ nương rẫy về bản, chúng tôi tìm đến nhà ông Vừ Chông Thông - Trưởng bản Huồi Giảng 1. Ông Thông vui vẻ tiếp khách với nồi khoai sọ vừa luộc xong, cầm lên tay nóng ran, làn hơi nước bốc lên mang theo một mùi thơm quyến rũ với khách miền xuôi. Trong cái buốt lạnh của núi rừng, lại gặp lúc vừa băng qua một chặng đường mệt nhọc, chúng tôi như ấm và khỏe hẳn khi được ăn khoai sọ luộc đang nóng hổi, rồi thưởng thức vị ngọt bùi của tinh bột ngũ cốc hòa quyện với hương đất, hương rừng như gần, như xa.

Ông Thông xởi lởi: “Khi mới biết nhìn, ta đã thấy củ khoai sọ nơi góc nhà. Sau này ta hỏi bố mẹ, ông bà, họ cũng nói vậy. Từ bao đời nay, khoai sọ luôn gắn bó và có mặt trong các ngôi nhà của người Mông. Nó là một loại lương thực để hỗ trợ mỗi khi thóc lúa trong nhà đã cạn. Vào mùa giáp hạt, khoai sọ trở thành nguồn lương thực chính của mỗi gia đình. Mấy năm gần đây, bà con nhận được gạo cứu trợ trong thời kỳ giáp hạt của Nhà nước nhưng vẫn không ai bỏ cây khoai sọ”. Nghe tin có khách dưới xuôi lên, bà Thông làm món canh khoai sọ để đãi khách. Củ khoai sọ được gọt vỏ, rửa sạch rồi xắt nhỏ nấu với rau cải Mông và một ít xương lợn. Lúc này vừa thưởng thức khoai sọ luộc, nhưng khứu giác và vị giác không thể bỏ qua được mùi vị quá hấp dẫn của canh khoai sọ do bàn tay người phụ nữ dân tộc Mông chế biến. Ở đó có vị bùi của khoai sọ, vị béo của thịt, vị ngọt và thanh của cây cải. Các loại mùi vị này quyện lẫn vào nhau làm nên hương vị đặc trưng của thứ canh khoai sọ.

Thưởng thức xong món canh khoai sọ hầm xương tại nhà ông Vừ Chông Thông, chúng tôi tiếp tục lên đường tìm đến bản Lữ Thành. Đoạn đường từ trung tâm xã đến bản Lữ Thành là con đường đất gập ghềnh men theo những sườn đồi, phía dưới là vực sâu thăm thẳm, phía trên là đỉnh núi cao ngất, nếu không có kinh nghiệm chạy xe máy đường rừng chắc hẳn không ai tránh được cảm giác rợn ngợp, thậm chí là phải chùn bước.

Vào thăm nhà ông Mùa Xái Cở, chúng tôi kể lại hành trình vào “thủ phủ khoai sọ”. Ông Cở liền nói: “Vậy là nhà báo đã ăn khoai sọ luộc và canh khoai sọ hầm xương, giờ ta đãi anh món khoai sọ hông”. Nói rồi, Mùa Xái Cở bảo vợ gác lại việc giã lúa để hông khoai sọ đãi khách. Người phụ nữ dân tộc Mông này vào góc nhà chọn những củ khoai sọ nhỏ, rửa sạch cho vào hông rồi bắc lên bếp lửa đã đượm. Chiếc hông của người vùng cao được làm từ thân một cây gỗ được đục rỗng. Thấy khách chăm chú để ý cái hông gỗ, ông Cở giải thích: “Để giữ được hương vị của nếp và khoai sọ, người trên này luôn dùng hông gỗ chứ không bao giờ dùng hông nhôm như dưới xuôi”.

Trò chuyện một lúc, mùi thơm đã tỏa ra từ chiếc hông trên bếp. Bà Cở nhấc chiếc hông khỏi bếp rồi rải khoai sọ ra một chiếc rổ lớn. Ông Cở liền nói: “Bắt đầu thôi, khoai sọ hông phải ăn khi nóng mới thú”. Cầm củ khoai sọ vừa được hông xong, xuýt xoa rồi bóc vỏ, hương thơm và mùi vị cơ bản giống với thứ khoai này khi được chế biến bằng cách luộc. Nhưng thưởng thức xong, thực khách dễ dàng nhận biết khoai được chế biến bằng cách hông thưởng dẻo và lưu giữ được vị thơm lâu hơn.

Mặt trời đã sắp xuống tận dãy núi trước bản Lữ Thành, chúng tôi chào chủ nhà để ra về, ông Mùa Xái Cở ôn tồn: “Sắp tối rồi, không về được đâu, sương mù giăng kín các ngả đường rồi, nguy hiểm lắm. Đêm nay ngủ lại đây thôi, tối nay ta làm món khoai sọ rán”. Chủ đã nói vậy thì khách không thể chối từ. Một lát sau, vợ chồng chủ nhà cùng chọn những củ khoai to đem rửa và gọt sạch vỏ rồi xắt thành từng miếng mỏng. Chiếc chảo lớn và khá nhiều mỡ được bắc lên bếp. Khi mỡ sôi, bà Cở cho từng miếng khoai sọ xắt nhỏ vào chảo và cần mẫn ngồi chờ lật từng miếng một. Từ bếp tỏa ra mùi béo ngậy. Bữa cơm được dọn ra, ngoài các loại thức ăn khác, trên mâm có một đĩa lớn khoai sọ rán (chiên) giòn. Mùa Xái Cở vừa lấy ra chai rượu vừa nói: “Cái thứ này là phải nhắm với rượu mới thú”. Quả thật, được nhắm rượu với khoai sọ rán giòn trong đêm Đông sương giá nơi vùng cao biên giới thật không có gì bằng, vì chất béo của khoai và mỡ cùng vị nóng của men rượu sẽ xua tan cái buốt lạnh của đất trời. Ông Cở nói thêm: “Món này được người Mông dùng khá phổ biến trong mùa Đông, vì nó giữ nhiệt cho cơ thể”. Bữa cơm đó kéo dài đến tận khuya, khi cả chủ và khách đã chếnh choáng vì men rượu.

Sáng hôm sau, dù sương mù chưa tan nhưng chúng tôi vẫn quyết định xuống núi để ra Mường Xén. Tại đây, được gặp lại ông Moong Văn Nghệ (74 tuổi, dân tộc Khơ mú), nguyên Phó trưởng Ban Dân tộc- Miền núi tỉnh. Khi biết chúng tôi vừa ra từ “thủ phủ khoai sọ” và được thưởng thức các cách chế biến loại khoai này, ông Moong Văn Nghệ liền nói: “Từ lâu khoai sọ còn được dùng làm các vị thuốc quan trọng trong Đông y nữa đó”. Nửa tin nửa ngờ, lên mạng Internet tra cứu, quả thật một số tài liệu khẳng định khoai có thể hỗ trợ điều trị một số trường hợp như đau dạ dày, bổ tỳ, suy nhược cơ thể, tăng cường thể lực, viêm thận, kiết lỵ, đau nhức gân cốt... Và rồi chợt nghĩ, phải chăng những con người nơi vùng cao biên giới này có sức khỏe dẻo dai, có đôi chân mạnh để trèo đèo, lội suối một phần do suốt đời gắn bó với khoai sọ, một loại lương thực đồng thời cũng là một vị thuốc quý?

Trao đổi với ông Lê Công Tâm, Trưởng Phòng Nông nghiệp huyện Kỳ Sơn, chúng tôi được biết, toàn huyện năm nay trồng từ 80-90 ha khoai sọ với tổng sản lượng khoảng 800 - 900 tấn. Khoai sọ được trồng ở Kỳ Sơn từlâu đời, vừa rồi được đưa ra triển lãm ở Hà Nội và thu hút nhiều sự chú ý. Đến nay vẫn chỉ duy trì ở mức độ nhỏ lẻ, là một trong những nguồn thu đáng kể của bà con trong những năm gần đây. Nhưng huyện không có chủ trương mở rộng diện tích gieo trồng vì giống khoai sọ tương đối “khó tính” nếu mở rộng diện tích sẽ ảnh hưởng đến vốn rừng.


Cong Kien